Sakichi Toyoda: Học người để làm tốt hơn

Hoàng Giang tổng hợp

 Ước mơ cải tạo chiếc máy dệt để những người mẹ xứ hoa Anh Đào đỡ vất vả, niềm tin, nghị lực phi thường, ý chí học tập kiên cường, đầu óc chiến lược, chiến thuật sắc sảo… Tất cả những điều đó đã làm nên tên tuổi Sakichi Toyoda – người đứng đầu công ty Toyoda Automatic Loom Works, cha đẻ của tập đoàn Toyota ngày nay.

Thành công của Toyota không chỉ thể hiện bằng những con số mà còn thể hiện ở một tài sản trí tuệ: Hệ thống những phương pháp tổ chức và quản lý sản xuất mang tên Toyota Production System do Sakichi đặt nền móng. “Không ngừng suy nghĩ, sáng tạo, học tập và tự hoàn thiện” – chính là cái thần của “đạo Toyota” mà anh chàng thợ mộc tài hoa đã tâm niệm từ thủa còn vận lộn với những chiếc máy dệt bằng gỗ.

Một ước muốn giản dị

Sakichi Toyoda sinh tại một làng quê nhỏ ở tỉnh Shizouka (nay là thành phố Kosai),  Nhật Bản, trong một gia đình thợ thủ công nghèo. Hàng ngày Sakichi phụ cha làm nghề mộc nhưng lại dành sự quan tâm đặc biệt đến chiếc máy dệt của mẹ. Chiếc thoi chạy qua chạy lại, sự dao động của thanh đập có một ma lực kỳ lạ cuốn hút chàng trai Sakichi và trong lòng ông dấy lên một ước muốn: mình phải nghĩ ra cái gì đó để chiếc máy chạy nhanh hơn và mẹ mình không còn phải mỏi tay, còng lưng như trước.

Sakichi đã vẽ hàng trăm bản thiết kế trên giấy và hàng nghìn bản vẽ bằng trí tượng tưởng trước khi đi vào giấc ngủ nhưng những thanh gỗ vẫn rời rạc, chưa làm nên nổi một chiếc máy dệt đúng nghĩa. Bản vẽ của ông là sự xuất phát tự những khung cửi cũ kỹ của mẹ, của xóm làng nhưng các chi tiết vẫn chưa thật sự ăn khớp với nhau và Sakichi vẫn chưa đủ tự tin để thực hiện bản vẽ của mình.

Năm 1890, Sakichi dành tất cả số tiền của mình có để lên Tokyo tham quan Hội chợ công nghiệp quốc gia lần thứ ba. Hai tuần diễn ra triển lãm là hai tuần ông cắm rễ bên cạnh những chiếc máy. Đến nỗi người bảo vệ hội chợ nghi ngờ động cơ và mục đích của ông. Sakichi đã nói giọng đầy xúc động: “Bác nhìn xem, triển lãm công nghiệp của chúng ta – của Nhật Bản – nhưng máy móc lại đến từ Anh, từ Pháp. Tôi ngắm nhìn chúng để tưởng tượng ra một nền công nghiệp Nhật Bản thật sự với chiếc máy mang nhãn mác Nhật Bản”.

Mùa hè năm 1890, sau bao đêm thức trắng, sửa đi sửa lại từng bản vẽ, sau nhiều ngày vận lộn với những thành gỗ, Sakichi Toyoda đã cho ra đời phát minh đầu tiên – chiếc máy dệt thủ công bằng gỗ cho năng suất làm việc tăng từ bốn mươi lên năm mươi phần trăm. Thành công ban đầu là niềm khích lệ lớn lao cho Sakichi. Nó đã chứng minh một điều rằng: con người với bàn tay, khối óc của mình cũng có thể biến ước mơ thành sự thực.

Không ngừng hoàn thiện

Sau thành công ban đầu, Sakichi Toyoda quyết định lên Tokyo lập nghiệp. Những năm đầu tiên ở Tokyo của Sakichi là một chuỗi thất bại liên tiếp. Xưởng dệt ông lập ra với năm chiếc máy dệt tay mới lắp chỉ mang lại chút lời khiêm tốn. Năm 1895, Toyoda Sakichi mở xưởng dệt Toyoda Shoten tại Nagoya và đồng thời mở cửa hàng bán lẻ Ito Retail Store để em trai ông quản lý. Số tiền lãi từ việc bán chi tiết cuốn sợi vượt quá mong đợi của ông, giúp ông có thể tiếp tực bắt tay vào việc thực hiện hoài bão lớn của mình.

Năm 1896, chiếc máy dệt  động lực khổ hẹp chạy bằng hơi nước đầu tiên của Toyoda ra đời và gây được tiếng vang lớn trong giới sản xuất và kinh doanh mặt hàng dệt may. Tuy nhiên không phải ngay lập tức ông đã bán được hàng, nhiều người cho rằng chưa chắc máy của Sakichi đã so được với máy nhập khẩu. Nhưng Sakichi không thất vọng, ông tìm cách quảng bá sản phầm của mình đồng thời không một giây phút nào ngừng những cải tiến cho chiếc máy dệt Nhật Bản.

Không chịu dừng lại ở đó, Toyoda Sakichi còn liên tục củng cố ý tưởng “không ngừng hoàn thiện chính mình”. Năm 1899, Sakichi bắt tay với công ty Mitsui Bussan, một tập đoàn kinh doanh lớn thời bấy giờ nhờ vào dự án ở Nagoya. Sakichi giữ vai trò là kỹ sư trưởng chịu trách nhiệm cải tiến hoàn thiện máy.

Mặc dù đã có những cải tiến quan trọng nhưng những chiếc máy diệt của Sakichi vẫn chưa dành được ưu thế so với máy nhập ngoại. Một lần nữa, Sakichi không coi đây là thất bại trái lại ông tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện những chiếc máy dệt. Năm 1905, chiếc máy dệt tự động Model 38 được làm hoàn toàn bằng sắt ra đời. Sau đó tiếp tục là Model 39 và Model L được tung ra thị trường. Ông đã tham gia thành lập công ty cổ phần Toyota Loom Works với cương vị là giám đốc điều hành.

Năm 1912 – 1915 là  khoảng thời gian thành công của Sakichi vì ông đã có một loạt những phát minh quan trọng, cải tiến chi tiết tự ngắt trong máy dệt. Để có được những thành công này, một lần nữa ông lại quên ăn, quên ngủ, say sưa với những chiếc máy, đắm mình trong bản vẽ và dầu mỡ. Đặc biệt, Sakichi đã thành lập được một đội ngũ kỹ sư giỏi tiến hành hàng loạt những thử nghiệm mới và kết quả là sự ra đời của những chiếc máy dệt tốc độ cao có thể dệt được 220 dòng sợi trong một phút.

Nhận thấy lợi thế của mình, Sakichi Toyoda đã có ý tưởng xuất khẩu máy dệt và thậm chí mở nhà máy ở nước ngoài. Lúc đầu ông có ý tưởng thành lập nhà máy ngay tại Mỹ hay châu Âu là những thị trường tiêu thụ máy dệt nhiều nhất lúc bấy giờ. Nhưng sau đó, Sakichi Toyoda đã kịp nhận thấy rằng chi phí nhân công lao động ở đó còn cao hơn cả Nhật Bản, do vậy giá sản phẩm sẽ cao và máy dệt Toyoda sẽ mất đi lợi thế quan trọng về giá.

Sakichi Toyoda quyết định lập nhà máy ở Trung Quốc, nơi có nguồn nhân công sẵn và rẻ. Thượng Hải đã trở thành căn cứ nước ngoài đầu tiên của ông chủ Sakichi Toyoda, lúc này đã rất thành đạt và có nhiều tham vọng mới.

Mơ về những con ngựa sắt

Trong một lần sang Mỹ để tìm hiểu thông tin cho dự án máy dệt tự động mà ông đang nghiên cứu, tình cờ Sakichi Toyoda nhận thấy ôtô đã xuất hiện ở  Mỹ khá nhiều. Chẳng lẽ người Nhật Bản không sản xuất được ôtô? Sakichi Toyoda đã luôn nhắc nhở người con trai Kichiro Toyoda chú ý đến nghành công nghiệp ôtô: “Công nghiệp ôtô mới là nghành công nghiệp của tương lai. Những chiếc máy dệt của chúng ta đã sắp trở thành quá khứ rồi… Đó là tương lai của con và bổn phận của con”.

Sakichi Toyoda đã đồng ý dành rất nhiều tiền để cho con trai lập một trung tâm nghiên cứu về ôtô do chính ông điều hành. Rút kinh nghiệm từ tuổi trẻ khi phải tự  mày mò sáng chế chiếc máy dệt đầu tiên, Sakichi Toyoda đã khuyên con trai phải sang Mỹ và châu Âu để tìm hiểu và nắm bắt công nghệ sản xuất ôtô. Quan điểm của Sakichi Toyoda là phải biết họ làm ôtô như thế nào rồi mình sẽ tìm cách để làm tốt hơn.

Tháng 10/1930, con người của sự kiên cường và sự sáng tạo không ngừng đã qua đời vì bệnh viêm phổi cấp. Ông ra đi nhưng sự nghiệp to lớn của ông vẫn được con trai Toyoda Kiichoro cùng các cộng sự tin cậy khác đảm đương và tiếp tục.

Với 119 phát minh đóng góp cho nền công nghiệp dệt của Nhật Bản. Năm 1927, ông đã được Thiên Hoàng trao tặng huân chương cao quý nhất: vì sự nghiệp phục vụ Nhật triều. Ông cũng đã được tạp chí Forbes bình chọn là một trong 13 doanh nhân ảnh hưởng nhất mọi thời đại.

Sinh thời, Toyoda Sakichi không chỉ coi trọng những thành quả trong kinh doanh mà còn quan tâm xem gia đình Toyoda đã đóng góp được gì cho đất nước. Triết lý sống “vì cộng đồng, vì chiến lược dài lâu” cùng với sự lớn mạnh của Toyota đã khiến cho tên tuổi Sakichi Toyota không chỉ trở thành huyền thoại đối với người dân Nhật mà còn đối với hàng triệu người trên thế giới.

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TẠI NHẬT VÀ NHỮNG BÀI HỌC

GS NGUYỄN VĂN TUẤN

Hôm đi công tác bên Nhật, một anh bạn Nhật ở Đại học Nagoya cho tôi đọc một tài liệu dài viết về kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học ở Nhật sau một hồi bàn cãi về giáo dục. Tác giả tài liệu là Tetsuya Kobayashi, một nhà giáo dục học thuộc Đại học Kyoto. Mãi đến hôm nay tôi mới đọc xong và “tiêu hóa” chút ít nội dung của tài liệu này. Tôi ghi lại đây vài dòng để gọi là nhật kí blog …

Quá trình phát triển giáo dục đại học ở Nhật có thể chia làm 4 giai đoạn như sau:

(1) thời kì Tây phương hóa (1868-1886);

(2) thời kì cách mạng kĩ nghệ và đại học (1886-1914);

(3) thời kì phát triển kĩ nghệ, chiến tranh, và “bành trướng” của hệ thống đại học (1914-1945); và

(4) thời kì hậu chiến (1945 cho đến nay).

Bốn giai đoạn phát triển của hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) của Nhật cũng có thể cung cấp cho chúng ta một vài bài học và kinh nghiệm đáng tham khảo. Đáng tham khảo là bởi vì Nhật cũng xuất phát từ một nước nông nghiệp, và cũng kinh qua một thời gian chiến tranh khốc liệt.

Giai đoạn 1: Tây phương hóa được khởi xướng từ thời Minh Trị Thiên Hoàng từ năm 1868. Trong giai đoạn này, Nhật cảm thấy bị đe dọa bởi các thế lực quân sự và kĩ nghệ của thế giới phương Tây, nhưng họ thấy đó là một cơ hội để tái cấu trúc hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế, chuẩn bị cho sự nghiệp kĩ nghệ hóa đất nước. Minh Trị nhận thức rằng Nhật cần phải nắm lấy và làm chủ những “know-how” của phương Tây.

Năm 1877, Đại học Tokyo được thành lập (trước đây trường này chỉ là một trường cao đẳng dạy ngoại ngữ và y học cổ truyền). Đại học Tokyo lúc đó có 4 khoa: luật khoa, khoa học, văn khoa, và y khoa. Trong giai đoạn phát triển này, phần lớn giáo sư là người ngoại quốc. Trong số 36 giáo sư, có đến 23 người là giáo sư từ Anh, Pháp, Đức, và Mĩ. Ngay cả những giáo sư người Nhật cũng là những người từng tốt nghiệp từ các nước vừa kể. Trong thời gian 20 năm sau đó, có đến 400 giáo sư từ các nước phương Tây được Bộ Giáo dục Nhật mướn (hay mời) dạy tại các đại học và cao đẳng trên khắp nước Nhật. Không chỉ trong ngành giáo dục, Nhật còn mướn các chuyên gia phương Tây để làm việc và hướng dẫn trong các ngành như khai thác hầm mỏ, đường sắt, điện lực, điện tín, hãng xưởng, v.v… Trong cùng lúc với sự hình thành của Đại học Tokyo, Nhật tích cực gửi sinh viên sang các nước phương Tây theo học tại các trường danh tiếng trên thế giới. Những “hạt nhân” đó sau này nắm giữ những chức vụ quan trọng trong hệ thống đại học và chính quyền.

Giai đoạn 2: Cách mạng kĩ nghệ và đại học. Giai đoạn này được đánh dấu qua việc thiết lập hệ thống “đại học vương triều” (Imperial University System), và định hướng rõ ràng rằng giáo dục phải phục vụ cho các mục tiêu của Nhà nước. Năm 1890, [Đại học] Tokyo Imperial University được cho phép thành lập thêm một khoa mới: đó là khoa nông học. Năm 1897, [Đại học] Kyoto Imperial University được thành lập theo mô hình của Đại học Tokyo. Kể từ đó, một số đại học trong hệ thống vương triều được thành lập, như Tohoku Imperial University (1907), Kyushu Imperial University (1910). Cả hai trường mới này chuyên về khoa học ứng dụng.

Thời gian mà các đại học vương triều ra đời trùng hợp với giai đoạn cách mạng kĩ nghệ ở Nhật. Cuộc cách mạng kĩ nghệ chủ yếu xảy ra ở ngành dệt và kĩ nghệ nhẹ, và chính các ngành “nhẹ” này đã là những viên gạch lót đường để Nhật trở thành một cường quốc kĩ nghệ sau này. Các đại học vương triều có nhiệm vụ phải đào tạo các kĩ sư và khoa học gia, chuyên gia để đáp ứng nhu cầu của cuộc cách mạng kĩ nghệ. Mặc dù ý thức được rằng đại học còn phải đào tạo các nhà nghiên cứu, nhưng trong giai đoạn này khi mà công nghệ của Nhật còn quá thô sơ, nên họ chủ yếu nhắm vào việc đào tạo chuyên gia lành nghề, và việc đào tạo chuyên gia nghiên cứu chỉ tập trung ở các đại học lớn như Tokyo và Kyoto.

Song song với sự ra đời của các đại học vương triều, Nhật còn thành lập một số trường cao đẳng kĩ thuật (technical college). Các trường cao đẳng có nhiệm vụ giới thiệu các công nghệ của thế giới phương Tây nhưng có ứng dụng thực tế vào điều kiện phát triển ở Nhật. Đến năm 1910, Nhật đã có 17 trường cao đẳng kĩ thuật, và mỗi năm huấn luyện được hàng ngàn chuyên viên kĩ thuật.

Trong thời kì này, Nhật còn có một số đại học tư thục, tuy lúc đó các trường này chưa được công nhận là “đại học” mà chỉ là những “trường đặc biệt” (special schools). Mãi đến năm 1918 các trường đại học tư thục mới được chính thức công nhận là đại học. Sau này, một số trường tư thục đó trở thành một đại học danh tiếng. Chẳng hạn như Đại học Keio được thành lập năm 1868 (do gia đình của Fukuzawa Yukichi thành lập), Đại học Doshisa (của Niijima Jo lập năm 1875), Đại học Waseda (do Okuma Shigenobu lập năm 1882) đã có công đào tạo các chuyên gia kĩ thuật và quản lí cho các công ti tư nhân, và đóng góp một phần lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa của Nhật.

Giai đoạn 3: Hậu chiến và phát triển. Trong thời gian chiến tranh, Nhật đã làm được một điều kì diệu: phát triển đại học và kĩ nghệ. Cuộc chiến Nga – Nhật (1904-1905) là giai đoạn Nhật “củng cố lực lượng” để xây dựng và bành trướng thực lực quân sự. Đến thế chiến 1914-1918 thì thực lực quân sự của Nhật đã được chứng minh. Thế chiến thứ nhất là động cơ để Nhật tiến hành một cuộc cách mạng kĩ nghệ thứ hai. Trong cuộc cách mạng này, Nhật tập trung vào kĩ nghệ nặng như đóng tàu, sản xuất sắt thép, sản xuất máy kĩ nghệ, hóa học, v.v… Trong thời gian 1915 và 1918, sản lượng kĩ nghệ của Nhật tăng 6 lần, và lần đầu tiên, sản lượng kĩ nghệ qua mặt sản lượng nông nghiệp, biến Nhật thành một nước kĩ nghiệp tiên tiến.

Năm 1918 cũng là năm lịch sử vì chính phủ cho ra đời một đảng chính trị. Với sự tác động của đảng chính trị này, đạo luật thành lập các đại học địa phương và đại học vùng ra đời. Đạo luật còn cho phép thành lập các đại học chuyên ngành như đại học chuyên về kĩ thuật, kinh tế, nông học, v.v…

Đến năm 1930, Nhật đã có 7 đại học vương triều, với 3 đại học mới là Hokkaido, Osaka, và Nagoya. Các đại học vương triều mới này chuyên về khoa học và công nghệ. Trong cùng thời gian này, các đại học cũ hơn như Tokyo và Kyoto bắt đầu thành lập các viện nghiên cứu trong và ngoài đại học. Phần lớn các viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu về vật lí, hóa học, công nghệ hàng không. Trong giai đoạn này, Nhật đã có một hệ thống đại học hoàn chỉnh và tạo được một nền tảng cho phát triển khoa học kĩ thuật trong tương lai.

Giai đoạn 4: Hoàn thiện. Giai đoạn phát triển thứ tư này kéo dài từ Thế chiến thứ hai cho đến nay. Khi Nhật bị thất trận, tổng sản lượng kĩ nghệ giảm xuống mức thấp nhất của năm 1910. Trong giai đoạn đầu sau khi Nhật đầu hàng, tương lai của nước Nhật nằm trong tay của lực lượng chiếm đóng, và tương lai đất nước còn khá mập mờ. Năm 1949, chính quyền chiếm đóng đề nghị một cuộc tổng cải cách giáo dục trên toàn quốc. Theo đó, tất cả các đại học – từ hệ thống đại học vương triều đến đại học địa phương và tư thục – đều phải theo một chương trình đào tạo thống nhất: đó là 4 năm cho cấp cử nhân. Đến năm 1950, Nhật đã có 201 trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu.

Đến năm 1952, khi Nhật được trao quyền tự trị, tương lai của Nhật có vẻ rõ ràng hơn. Người Nhật nhận thức rõ rằng để tồn tại trên thế giới với sự hạn chế tài nguyên thiên nhiên, Nhật tùy thuộc rất lớn vào khả năng kĩ nghệ. Để phát triển kĩ nghệ, họ cần phải phát triển hệ thống giáo dục đại học đến một tầm cao hơn. Năm 1956, một tài liệu về giáo dục cao đẳng của Anh (White Paper on Technical Education) được dịch sang tiếng Nhật, và trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng, một kim chỉ nam cho hệ thống giáo dục đại học của Nhật sau này. Năm 1956, Cục Khoa học và Công nghệ được thành lập, và năm 1960 Hội đồng Khoa học và Công nghệ đề xuất một số chính sách để phát triển khoa học và công nghệ trong vòng 10 năm. Những đề nghị này trở thành định hướng phát triển và hoàn thiện hệ thống đại học cho đến ngày nay.

Ngày nay, Nhật có hơn 725 trường đại học và 518 trường cao đẳng. Chất lượng đào tạo đại học của Nhật được thế giới công nhận. Hiện nay, Nhật có 11 trường đại học được xếp vào hạng “top 200” trên thế giới, với Đại học Tokyo (hạng 19) và Kyoto (hạng 25). Trong thời gian 1997-2001, các nhà khoa học Nhật công bố khoảng 336,858 bài báo khoa học, chiếm 9.3% tổng số bài báo khoa học trên thế giới. Số ấn phẩm khoa học của Nhật đứng vào hàng thứ 4 trên thế giới, chỉ sao Mĩ, Liên hiệp Âu châu, Anh, và Đức.

Vài nhận xét

Đọc qua tập tài liệu về quá trình hình thành và phát triển của Nhật, tôi thấy có một số bài học hay kinh nghiệm có thể tham khảo.

Thứ nhất là nhờ Tây phương hóa. Một đặc điểm nổi bật nhất của hệ thống giáo dục đại học Nhật là mô hình phương Tây. Thật ra, từ thế kỉ 19, Nhật đã quyết định lấy phương Tây làm chuẩn cho giáo dục! Ngay từ đó, Nhật đã du nhập kiến thức và kĩ năng của phương Tây vào một nước phương có nền văn hóa phương Đông. Ngay từ thế kỉ 19, Nhật đã không ngần ngại bỏ ra một số tiền lớn để mướn các giáo sư và chuyên gia phương Tây đển giảng dạy tại các đại học Nhật. Theo thống kê, năm 1873, Bộ Giáo dục Nhật chi đến 14% ngân sách giáo dục cho các giáo sư ngoại quốc. Có điều đáng chú ý là họ chỉ Tây phương hóa những lĩnh vực họ cần (như kĩ thuật) chứ không phải Tây phương hóa nền văn hóa cổ truyền của họ.

Thứ hai là sự phối hợp nhịp nhàng giữa giáo dục và kĩ nghệ. Trong giai đoạn đầu kĩ nghệ hóa, Nhật không có một chiến lược phát triển có hệ thống hay có kế hoạch. Tuy nhiên, chính phủ có chính sách khuyến khích giới kĩ nghệ phát triển giáo dục và khoa học. Xuất phát từ chính sách này, nhiều trường đại học tư thục được thành lập, và cho đến nay, trong số hơn 725 đại học, có đến 565 (78%) là đại học tư thục do giới kĩ nghệ hay các tôn giáo sáng lập. Nhà nước và giới kĩ nghệ có sự phối hợp tốt để đảm bảo công ăn việc làm cho sinh viên khi tốt nghiệp. Qua trình phát triển các đại học tư thục cũng thể hiện đóng góp quan trọng của giới kĩ nghệ trong việc nâng cao giáo dục cho quốc dân ở Nhật.

Thứ ba là tự chủ. Trong giai đoạn đầu phát triển, các đại học chịu sự chỉ đạo của chính phủ, nhưng đến giai đoạn 2 trở đi, các đại học được tự quản. Trong giai đoạn đầu, các đại học Nhật “vận hành” chủ yếu với chức năng tiếp thu và chuyển giao công nghệ của phương Tây vào môi trường kinh tế xã hội Nhật. Khi giai đoan du nhập đã qua, các đại học trở nên tự chủ, và tự do hơn trong giảng dạy và nghiên cứu. Năm 1919, các giáo sư được quyền chọn hiệu trưởng và đồng nghiệp.

Thứ tư là chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế. Ai cũng biết người Nhật có tinh thần quốc gia rất cao. Ấy thế mà họ chẳng những chấp nhận mà còn tích cự du nhập tri thức và kĩ thuật từ phương Tây. Trong giai đoạn đầu, các đại học Nhật chủ yếu phục vụ cho quyền lợi của Nhật, như ngay cả các đại học vương triều cũng có sứ mệnh cụ thể là sáng tạo ra tri thức nhằm phục vụ quốc gia. Nhưng sau khi đã ổn định và nhận thực được rằng thế giới càng ngày càng liên đới nhau, các đại học Nhật bắt đầu vươn ra ngoài Nhật theo tinh thần chủ nghĩa quốc tế.

Ở Việt Nam, đã có nhiều bàn luận về giáo dục đại học, nhưng hình như cho đến nay chính phủ vẫn chưa đồng ý với một mô hình nào. Trước kia thì giáo dục đại học theo mô hình của Pháp, rồi đến Mĩ, và một thời gian dài phía Bắc là theo mô hình của Nga (hay Liên Xô cũ). Hệ quả là ngày nay chúng ta có một hệ thống giáo dục pha trộn một số đặc điểm của Pháp, Liên Xô cũ, và Mĩ. Nói chẳng giống ai, hay nói như Gs Huỳnh Hữu Tuệ là “quá kì dị”. Vậy thì câu hỏi đặt ra là chúng ta cần làm gì để hệ thống giáo dục đại học nước ta không quá dị kì? Hầu như bất cứ ai quan tâm đến giáo dục nước nhà đầu muốn có một cuộc cải cách toàn diện giống như Nhật vào những năm Thế chiến thứ hai. Theo tôi, những lĩnh vực cần cải cách là:

Cải cách tổ chức. Hiện nay, theo số liệu thống kê, Việt Nam đã có 376 trường đại học; hơn 70% trong số này mới được thành lập trong 5 năm qua! Nhưng tiêu chuẩn thế nào là một đại học vẫn chưa được rõ ràng mấy, hay có những qui định về tiêu chuẩn nhưng còn nặng tính hành chính chứ không khoa bảng. Có thể nói không ngoa rằng rất nhiều đại học hiện nay không phải là đại học theo chuẩn mực quốc tế. (Gần đây, chúng ta đã thấy “Đại học Phan Thiết” như thế nào). Do đó, cần phải rà soát lại và nếu cần giải tán những trường không đủ tiêu chuẩn hay sáp nhập với các trường khác.

Cải cách hệ thống lương bổng. Đại học là nơi tập trung những thành phần trí thức ưu tú, và là cái nôi phát triển và nuôi dưỡng nhân tài. Nhưng điều đáng buồn ở Việt Nam ngày nay là đại học không có sức thu hút nhân tài, vì tình trạng lương bổng quá nghèo nàn, không đủ nuôi sống những nhà khoa học có tài thực sự. Vì thế, cần phải ổn định một số nhỏ nhà nghiên cứu làm nghiên cứu cơ bản qua tăng lương một cách xứng đáng cho họ có thể sinh sống trong một nền kinh tế thị trường. Một nhà khoa học không thể nào nghiên cứu trong khi cái tâm cứ nơm nớp lo nghĩ đến miếng ăn hàng ngày. Cần phải có chính sách cụ thể khuyến khích các nhà khoa bảng làm nghiên cứu ứng dụng và qua đó tăng khả năng thu nhập riêng cho họ và cho trường đại học. Cần phải khuyến khích (bằng các phần thưởng xứng đáng về vật chất và danh dự cho các) sinh viên tham gia thành công vào nghiên cứu khoa học.

Giảng dạy. Vấn đề đào tạo đội ngũ giảng dạy trong các đại học chiếm một vị thế cực kì quan trọng trong việc nuôi dưỡng nhân tài. Trong khi các trường đại học ta đang thiếu thốn giảng viên một cách nghiêm trọng, số lượng được đào tạo trong nước chẳng là bao. Theo như một thống kê gần đây, trong vòng 30 năm qua, kể từ khi có quyết định chương trình đào tạo hậu đại học trong nước, trung bình mỗi năm cả nước chỉ đào tạo trên dưới 650 thạc sĩ và tiến sĩ, một con số rất ư làm khiêm tốn, có khi còn thấp hơn con số của một trường lớn ở các nước phương Tây. Rõ ràng, một số lớn này phải được đào tạo từ nước ngoài. Do đó, Việt Nam cần mạnh dạn gửi học sinh và giảng viên ra nước ngoài học hậu đại học nhiều hơn nữa. Nhưng đơn thuần gửi sinh viên ra ngoài học là một phương án tương đối đắc giá. Tôi nghĩ một phương án khác đỡ tốn kém hơn là qua đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu với các đại học nước ngoài, để qua đó tạo điều kiện cho cộng tác viên phiá Việt Nam có cơ hội làm luận án và đào tạo được thêm chuyên viên nghiên cứu và giảng viên cho Việt Nam với kinh phí vừa phải.

Nghiên cứu khoa học. Các hàm như “giáo sư” không nên được xem là một danh hiệu vinh quang hay huân chương khoa bảng, mà chỉ là những chức vụ khoa bảng, dùng để ghi nhận sự cống hiến, và ở một khía cạnh nào đó, trình độ chuyên môn, của người được đề bạt. Một sự thật mà những ai hoạt động trong khoa học đều phải công nhận là sự hiện diện của các nhà khoa học ở trong nước trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Để nâng cao chất lượng người được đề bạt và khuyến khích nghiên cứu khoa học, tôi đề nghị tiêu chuẩn được đề bạt không nên được căn cứ hay đặt nặng vào số lượng bài báo công bố, mà nên đặt nặng vào chất lượng của những bài báo đó. Ở Mĩ, có nhiều giáo sư thực thụ chỉ có 30 hay 40 bài báo (tất nhiên là có chất lượng, được đồng nghiệp trên thế giới ghi nhận), không cần đến con số 100 như các nước khác. Ở các nước phương Tây ngày nay, chất lượng các bài báo đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế, thường được xem là những thước đo chuẩn về khả năng làm khoa học của người giữ các chức vụ khoa bảng trong đại học hay các viện nghiên cứu. Một người mang hàm “giáo sư” mà “vô danh” trên trường quốc tế trong lĩnh vực hoạt động của mình là một điều không thể chấp nhận được.

Cơ sở vật chất. Tất cả các đại học ở Việt Nam đều quá nghèo nàn về cơ sở vật chất. Thư viện quá nhỏ và thiếu sách, tạp chí khoa học trầm trọng. Phòng lab thí nghiệm cũng cực kì khiêm tốn. Đặc biệt là hệ thống internet quá yếu. Thế giới ngày nay đang ở trong một thời kì cách mạng vĩ đại về thông tin, mà trong đó internet là một công cụ cực kì quan trọng. Công nghệ thông tin (information technology) được công nhận là một bộ phận không thể thiếu được trong giáo dục. Internet không những là một kho tàng thông tin, một thư viện bách khoa vĩ đại của nhân loại, mà còn là một trường đại học của cộng đồng trên thế giới. Mạng internet đã và đang làm thay đổi hầu như trong mọi vận hành, kể cả cách thức giảng dạy và nghiên cứu, trong tất cả các trường đại học ở phương Tây. Internet, điện thư (e-mail), và hội đàm viễn liên (teleconference) đang nhanh chóng thay đổi lề lối làm việc và nghiên cứu của các đại học phương Tây. Ngày nay, ở các nước như Mĩ và Âu châu, nếu không có hệ thống internet chắc có lẽ trường đại học sẽ ngưng hoạt động! Tôi đã từng hướng dẫn thành công vài du học sinh chỉ qua điện thư! Trong khi đó, số lượng học sinh, sinh viên và các nhà khoa học ở trong nước có điều kiện truy nhập vào mạng Internet còn quá ít. Do đó, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh tham gia vào cuộc cách mạng về công nghệ thông tin này cần phải được đưa lên một trong những quốc sách hàng đầu trong nền giáo dục. Tôi đề nghị Nhà nước nên dành một ngân khoản xứng đáng cho tất cả các trường đại học được nối vào một mạng chung. Trong khi việc nâng cấp các thư viện là một mục tiêu lâu dài, Nhà nước cần dành ra một ngân khoản giúp đỡ giảng viên và sinh viên ở các trường đại học hay viện nghiên cứu được truy nhập mạng internet miễn phí hay với chi phí tối thiểu, để cho họ có được những thông tin khoa học mới nhất hay có cơ hội trao đổi ý kiến với đồng nghiệp trên thế giới.

Kiểm tra chất lượng. Tôi vẫn nghĩ sự buông lỏng trong kiểm tra chất lượng là một lí do lớn dẫn tới tình trạng trên đây kém chất lượng đào tạo. Cố nhiên, mỗi đại học cũng phải có trách nhiệm về chất lượng đào tạo, nhưng dường như có một số trường chưa nhận trách nhiệm này một cách nghiêm túc. Để tìm hiểu nguyên nhân và từ đó nâng cao chất lượng đào tạo cho tương đương với các tiêu chuẩn quốc tế, ngay bây giờ, cần có một ủy ban có nhiệm vụ chính là nghiên cứu phương pháp giảng dạy, đề ra tiêu chuẩn đồng nhất về đào tạo (kể cả sách giáo khoa) và thẩm tra chất lượng đào tạo cho tất cả các trường đại học và cơ sở đào tạo cấp đại học hay sau đại học. Ủy ban này nên độc lập với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, nhưng phải có đại diện của Bộ, của các trường đại học, của chính quyền địa phương, các nhà doanh nhân, cơ sở nghiên cứu, và các nhà khoa bảng ở nước ngoài. Ở Nam Phi trong các thập niên 70s và 80s, ủy ban kiểm tra chất lượng đào tạo đại học này đã rất thành công trong việc nâng cao chất lượng sinh viên của họ.

“Việt kiều”. Hiện nay, số lượng người Việt đang định cư hay làm việc ở nước ngoài đã lên đến con số hai triệu; trong số này, có ít nhất là 10% có trình độ đại học trở lên. Trong hầu như tất cả các nghành khoa học và trong nhiều đại học trên thế giới, đều có sự hiện diện của người Việt; trong số này, có nhiều người giữ chức vụ khoa bảng quan trọng, có khả năng khoa học kĩ thuật cao, có kinh nghiệm lâu năm trong nghiên cứu khoa học, có uy tín lớn với các cơ quan cung cấp tài chính cho nghiên cứu, và quan trọng hơn nữa, làhọ có tâm huyết với nền giáo dục trong nước. Thế nhưng cho tới nay, mặc dù có sự cộng tác cá nhân giữa vài nhà khoa học ở ngoài và các trường, viện nghiên cứu trong nước, việc huy động và sử dụng nguồn nhân lực khoa học này vẫn chưa được tiến hành một cách có hệ thống. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo nên xúc tiến một ngân hàng dữ liệu về các nhà khoa học gốc Việt đang làm việc ở nước ngoài trong các lĩnh vực khoa học. Và từ đó, nhà nước nên có chính sách cụ thể và tích cực nhằm tạo điều kiện cho các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có cơ hội giảng dạy, tham gia vào việc thẩm định các luận án sau đại học, và nghiên cứu ở trong nước.

Nên lập ra những chương trình “visiting fellowship”, tức là chương trình thỉnh giảng. Tại các đại học và trung tâm nghiên cứu Tây phương, người ta đều có những chương trình “visiting fellowship” mà trong đó các giáo sư và nhà nghiên cứu ngoại quốc đến giảng dạy hay nghiên cứu trong một thời gian 3 hay 6 tháng. Đây là một hình thức “mở cửa” để trao đổi kinh nghiệm, để tìm cơ hội hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài, và qua đó tranh thủ sự tài trợ của họ.

Ở nước ta, năm 2020 thường được đề cập đến như một cái mốc thời điểm để hoàn thành công cuộc kĩ nghệ hóa và hiện đại hóa đất nước. Thời gian 10 năm không phải là dài, nếu không muốn nói là quá ngắn, cho một mục tiêu đầy thử thách và tham vọng này. Những ai quan tâm tới nền giáo dục trong nước đều nhận ra rằng việc cải cách nền giáo dục là cần thiết, nhưng dường như ai cũng … bó tay. Nếu ta vẫn chưa thoát ra khỏi lối suy nghĩ ao tù, nơi mà thế giới không bao giờ thay đổi, hay kiểu không làm được hôm nay thì có thể làm ngày mai, thì ta lại càng bị tụt hậu và thua kém các nước khác trong vùng. Vấn đề cải cách giáo dục và chất lượng giáo dục cần phải được giải quyết ngay từ bây giờ, không thể dần dà để 5 hay 10 năm nữa, nếu ta không muốn bị thế hệ sau phê phán là đã thụ động.

Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản?

Tác giả: Nguyễn Quốc Vương (Nhật Bản)

Trong cuộc CCGD toàn diện và rộng lớn ấy, những người giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông đóng một vai trò vô cùng to lớn. Họ không đơn thuần chỉ là người thực hiện những chỉ dẫn cải cách mang tính hành chính từ bộ GD mà họ còn đóng vai trò phản biện chính sách góp phần đảm bảo cho cuộc CCGD diễn ra đúng hướng.

Ở nước ta lâu nay khi bàn về cải cách giáo dục người ta thường bàn nhiều về sách giáo khoa. Đã có rất nhiều ý kiến nêu lên sự “quá tải”, nặng nề của SGK cùng những sai sót của nó. Nhiều giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường  phổ thông  bày tỏ nỗi niềm bức xúc khi bị “kẹt” giữa một bên là lượng kiến thức khổng lồ trong SGK và lượng thời gian hạn hẹp trên lớp. Mâu thuẫn ấy khiến cho họ luôn ở trong tâm lí lo sợ bị “cháy” giáo án, sợ bị kỉ luật vì không theo kịp chương trình.

Sách giáo khoa- không phải duy nhất và tuyệt đối

Tôi không có ý phản đối chuyện phản biện SGK, trái lại công việc này cần  được tiến hành dân chủ,  rộng rãi với sự tham gia của các nhà GD, đặc biệt các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy ở các trường phổ thông, các học sinh. Nhưng ở đây, vấn đề đặt ra và cần phải được làm rõ trong quá trình tiến hành cải cách GD là mối quan hệ giữa chương trình-SGK và thực tiễn GD của giáo viên.

Mối quan hệ này trên phương diện lí luận, pháp lí được xác lập ra sao và trên thực tế nó tồn tại như thế nào? Mối quan hệ ấy hiện nay đang suôn sẻ hay đang gặp khó khăn, và để giải quyết những khó khăn đó  cần đến giải pháp gì?

Thực tiễn GD không phải đơn thuần chỉ là giáo án hay nội dung bài giảng của giáo viên mà còn là toàn bộ những hoạt động dạy-học diễn ra  trên lớp, những tài liệu, dụng cụ họ sử dụng trong giờ học, những lời phát biểu, các câu hỏi đưa ra và  phản hồi của học sinh trong và sau bài giảng.

Để tham khảo, người viết bài này xin được dẫn ra một vài thông tin về mối quan hệ nói trên ở GD tiểu học Nhật Bản.

Ở Nhật từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhà nước thực hiện chế độ kiểm định SGK thay cho chế độ quốc định(1) đã trở nên lỗi thời.  Hiện tại có 6 nhà xuất bản tư nhân cùng  cạnh tranh trong việc biên soạn và xuất bản SGK  phục vụ học sinh tiểu học(2).

Các nhà xuất bản này giữ quyền chủ động trong việc tổ chức biên soạn và xuất bản, Bộ GD Nhật Bản chỉ nắm khâu thẩm định cuối cùng thông qua  phán quyết của hội đồng chuyên môn để quyết định xem cuốn sách nào đủ tiêu chuẩn  trở thành SGK. Việc lựa chọn bộ SGK nào là do ủy ban GD địa phương hoặc hiệu trưởng các trường quyết định.

Vì vậy trên thực tế ở Nhật có nhiều bộ SGK cho các trường lựa chọn và quan trọng hơn SGK chỉ là tài liệu  chủ yếu phục vụ giảng dạy, học tập  chứ không phải là duy nhất và tuyệt đối. Giáo viên có thể dạy bám sát nội dung SGK hoặc cấu trúc lại,  tự mình thiết kế  nên  một nội dung riêng phù hợp với mục tiêu, nội dung cơ bản  đề ra trong chương trình khung  được ghi rõ trong “Bản hướng dẫn giảng dạy”(3). Đây gọi là quyền tự do thực tiễn GD.

Quyền này được đảm bảo bằng hiến pháp (ban hành năm 1947)  và các bộ luật  GD như luật GD cơ bản, luật GD trường học, luật GD nghĩa vụ…

Ở Nhật  bậc tiểu học kéo dài  6 năm. Ở cấp học này học sinh học nhiều môn  như: Toán, Quốc ngữ, Thủ công, Thể dục, Âm nhạc, Xã hội, Khoa học …Liên quan đến các môn xã hội, ở lớp 1,2 học sinh  sẽ học môn Đời sống, lên lớp 3, 4 sẽ học môn Xã hội với nội dung chính là tìm hiểu toàn diện về khu vực mà mình đang học tập, sinh sống. Học sinh lớp 5 sẽ học về lãnh thổ và kinh tế nước Nhật,  học sinh lớp 6 sẽ học Quốc sử( lịch sử Nhật Bản)  cùng với các  nội dung chính trị-xã hội khác.

Ông Fujita, ông Naito và câu chuyện trò tự tìm ra chân lý

Để minh họa cho mối quan hệ chương trình- SGK và thực tiễn GD của giáo viên, tôi xin được dẫn ra  một ví dụ  cụ thể về thực tiễn GD mà tôi có tham gia chứng kiến ở một vài công đoạn, do cô Kawasaki tiến hành ở Trường tiểu học Hiyoshidai, t/p Takatsuki, phủ Osaka. Thực tiễn GD này được cô Kawasaki đặt tên là “Hai nông gia chuyên nghiệp: ông Fujita và ông Naito”

Để thực hiện loạt giờ học về nông nghiệp với tên gọi nói trên, cô Kawasaki đã đi điều tra thực tế, thu thập thông tin và phỏng vấn một nông gia nổi tiếng trong vùng là ông Naito. Cô phát hiện ra điểm mấu chốt là 10 năm trước, ông là nông gia dùng nông dược nhưng rồi sau vụ ngộ độc thuốc trừ sâu, ông suy nghĩ và đi đến quyết định không sử dụng  nông dược trong quá trình sản xuất nữa.

Cô Kawasaki  đã sử dụng bước ngoặt này như một điểm nhấn quan trọng trong nội dung GD mà cô thiết kế.

Phần nội dung GD hoàn toàn do cô chủ động xây dựng này thay cho nội dung về phần sản xuất nông nghiệp với những thông tin mang tính tổng quát trong SGK. Trong thực tiễn GD của cô,  SGK trở thành tài liệu tham khảo đọc trước ở nhà và cả ở trên lớp để phục vụ tranh luận. Nói một cách khác cô đã thiết kế và thực hiện một nội dung GD cụ thể căn cứ trên mục tiêu, nội dung chương trình khung được đề ra trước đó, lấy cái cụ thể để làm rõ cái khái quát, bao trùm.

Toàn bộ thực tiễn GD này gồm hai phần chính:

Phần 1:  Thực phẩm và nông dược

(Trước đó, cô Kawasaki đã hướng dẫn học sinh tiến hành hoạt động ngoại khóa: Điều tra thu thập thông tin mua bán thực phẩm, sản xuất nông nghiệp, sử dụng nông dược ở xung quanh nơi các em sinh sống). Phần này gồm 4 tiết học, mỗi tiết kéo dài 45 phút với các nội dung cụ thể như sau:

Tiết 1: Bắp cải đẹp và bắp cải bị sâu cắn: Nếu là người mua em sẽ chọn cái nào? Tiết 2: Chúng ta thường  mua thực phẩm ở đâu? Tiết 3:  Chúng ta cần chú ý điều gì đối với thực phẩm? Tiết 4:  Nông dược là gì?

Phần 2   Nông gia vùng Tainaka: ông Naito và ông Fujita.

Phần này được tiến hành qua 7 tiết học với nội dung cụ thể như sau: Tiết 1: Tainaka là vùng thế nào? Tiết 2-3-4: Ông Fujita và ông Naito 1: Nếu là người sản xuất em chọn ông nào? Tiết 5-6: Nghe ông Naito kể chuyện. Tiết 7: Suy nghĩ của các em sau câu chuyện kể (cho học sinh viết tiểu luận).

Những thông tin giáo viên thu thập được như: Tình hình sản xuất, khó khăn, niềm hạnh phúc, thu nhập bình quân hàng năm của nông gia… được giáo viên chỉnh lí cho dễ hiểu và in dưới dạng tài liệu phân phát cho học sinh. Hai nhân vật Naito (không dùng nông dược)  và Fujita (dùng nông dược) là sáng tạo của giáo viên.

Ông Fujita là hình ảnh 10 năm về trước của ông Naito. Giáo viên dùng hai hình ảnh đối lập này để tiến hành giờ học dưới hình thức trao đổi ý kiến và tranh luận. Trung tâm của bài học là vấn đề “Nếu là người sản xuất em sẽ lựa chọn ông Naito hay ông Fujita?”. Học sinh  căn cứ vào những luận điểm như: Thu nhập, khó khăn, thuận lợi… của hai người mà tranh luận, bác bỏ ý kiến đối  lập và bảo vệ sự lựa chọn của mình.

Phân tích hồ sơ giờ học(4) cho thấy học sinh đã tranh luận sôi nổi và đưa ra nhiều ý kiến thú vị. Kết cục có ba xu hướng:

Xu hướng thứ nhất: chọn ông Naito

Học sinh A(5):  Tớ chọn ông Naito vì nếu tớ là nông gia tớ muốn mọi người được ăn thực phẩm tươi tự nhiên, ít có nông dược. Mặc dù thu nhập của ông Fujita cao hơn nhưng nếu xét về tính tự nhiên thì ông Naito vẫn tốt hơn. Cho dù có bị sâu chén đi nữa thì cũng không phải là điều dở. Mà có khi thứ bị sâu chén lại là đồ ngon.

Học sinh B: Tớ chọn ông Naito vì nông dược có ảnh hưởng đến tính mạng người khác. Nếu như lỡ ăn phải sản phẩm của ông Fujita mà lại quên rửa thì chỉ có đường chết! Tớ cũng nghĩ như cậu A, mạng sống không bao giờ trở lại. Cho dù ai cũng thích tiền nhưng dẫu có tiền cũng không mua được sinh mạng nên tớ chọn ông Naito.

Xu hướng thứ hai: chọn ông Fuji ta

Học sinh C:  Chắc chắn là tớ chọn ông Fujita . Cho dù nói là nông dược nguy hiểm đến thế nào đi chăng nữa thì cho đến giờ ông Fujita cũng chưa một lần bị nhiễm độc. Ông Naito cho dù không dùng nông dược nhưng vẫn có nhược điểm. Thứ nhất là thu nhập thấp, thứ hai là cũng có lần không bán được, thứ ba là bị sâu ăn. Trái lại ông Fujita thì một là thu nhập cao, thứ hai ít khi không bán được, thứ ba là trở thành người trồng  rau nổi tiếng. Và như thế đương nhiên ông Fujita tốt hơn.

Học sinh D: Tớ nghĩ làm ông Fujita tốt hơn. Cho dù có dùng nông dược đi nữa thì vẫn tốt hơn là bị sâu ăn. Ví dụ như khi trồng bắp cải mà không dùng nông dược thì những chỗ có thể ăn được sẽ bị sâu ăn mất. Cho dù có dùng nông dược đi nữa thì chỉ cần rửa kĩ là không sao. Thế cho nên chắc chắn tớ chọn ông Fujita. Bác Fujita ơi hãy cố gắng nhé!

Xu hướng thứ ba: Phân vân

Học sinh  E: Tớ ngày hôm qua chọn ông Fujita, nhưng hôm nay đổi sang chọn ông Naito. Khi nghe ý kiến mọi người, tớ lại phân vân không biết chọn ai. Nhưng ông Fujita cho dù có dùng nông dược đi nữa thì vẫn có thu nhập cao. Ông Naito tuy không dùng nông dược nhưng lại có thu nhập thấp. Tớ muốn mọi người ăn thứ không có nông dược nhưng nếu thu nhập thấp thì biết làm sao đây? Nhưng việc ông Naito phải dùng máy cày dẫm nát bắp cải thật đáng thương!

Học sinh  F: Cho đến ngày hôm qua, tớ chọn ông Fujita nhưng hôm nay học thêm lần nữa tớ lại cảm thấy phân vân. Ông Fujita thì có thu nhập cao nhưng lại sử dụng nông dược, nhìn vào tài liệu thấy có viết chuyện ngộ độc thật là đáng sợ. Ông Naito có thu nhập thấp vì thế cuộc sống khó khăn. Nhưng ông Naito đã bỏ cách dùng nông dược sang không dùng nông dược nên tớ nghĩ ông Naito là OK. Thế nên lúc này tớ chẳng biết nói thế nào cả.

Giờ học kết thúc mà không có kết luận cuối cùng. Từ các lớp bậc trên của tiểu học (lớp 4 trở đi) trong những giờ học sử dụng phương pháp thảo luận, tranh luận, giáo viên thường không đưa ra  kết luận cuối cùng hay phê phán ý kiến khác biệt, thiểu số  của học sinh.

Bởi vì mục tiêu mà các giáo viên Nhật hướng tới là GD nên những  học sinh có tri thức,  tư duy độc lập, năng lực phê phán và trách nhiệm cá nhân. GD nên những con người biết tự mình suy nghĩ, tự mình nhận định đúng sai, tự mình tìm lấy chân lí và bảo vệ chân lí là một bộ phận quan trọng nằm trong triết lí GD Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Không phải chỉ có giờ học về nông nghiệp mà  các giờ học Địa lí, Lịch sử cũng vậy. Tôi đã quan sát  không ít các giờ học Lịch sử, ở đó học sinh  Nhật sôi nổi tranh luận những vấn đề mà nhiều người lớn cũng sẽ lúng túng khi phải đưa ra ý kiến như: “Tán thành hay phản đối cuộc chiến tranh với nước Nga?”(6) “Trách nhiệm chiến tranh thuộc về người dân Nhật hay thuộc về Thiên hoàng?”…

Vai trò giáo viên: Dạy trò độc lập tư duy và dám phản biện

Từ thực tiễn giờ học trên có thể rút ra điều gì?

Nó đã thể hiện rất rõ vai trò của giáo viên trong việc xử lí mối quan hệ giữa GD và thực tiễn, giữa SGK-nội dung chương trình và thực tiễn dạy học của giáo viên.

Những vấn đề liên quan đến các mối quan hệ này đã được các nhà nghiên cứu, các nhà GD Nhật tranh luận sôi nổi suốt từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Việc làm rõ những vấn đề này có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến những vấn đề cơ bản mà GD, nơi tạo ra những người làm chủ, nơi quyết định sự hưng vong của cả một quốc gia dân tộc.

Kết cục bi thảm của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai cùng với sự phản tỉnh sâu sắc về một nền GD sai lầm trong quá khứ đã giúp cho người giáo viên Nhật nhận thức rõ về quyền, nghĩa vụ và sứ mệnh của mình.

Nước Nhật từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã giải bài toán GD tương đối thành công  bằng cuộc CCGD triệt để, toàn diện có triết lí và lộ trình rõ ràng. Cuộc CCGD ấy vẫn diễn tiến đến tận ngày nay cho dù triết lí GD về cơ bản là không thay đổi. Trong cuộc CCGD toàn diện và rộng lớn ấy, những người giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông đóng một vai trò vô cùng to lớn.

Họ không đơn thuần là người thực hiện những chỉ dẫn cải cách mang tính hành chính từ bộ GD mà họ còn đóng vai trò phản biện chính sách góp phần đảm bảo cho cuộc CCGD diễn ra đúng hướng.

Quan trọng hơn, những người giáo viên bằng  thực tiễn GD phong phú, sáng tạo tương ứng với điều kiện cụ thể của từng trường học, lớp học, học sinh đã tạo ra cuộc CCGD từ dưới lên bằng muôn nghìn dòng chảy. Cuộc CCGD ấy đã có những tác động lớn và tích cực tới dòng chảy CCGD từ trên xuống do bộ GD chủ trì.

Việt Nam  hiện tại cũng đang  đứng trước  bài toán GD. Bài toán vừa mang tính kinh điển vừa mang tính thời đại. Muốn giải trọn vẹn bài toán này rất có thể phải giải thêm và cùng lúc một hai bài toán chính và hàng chục bài toán phụ.

Bài toán này tuy khó nhưng  thực ra đã nhìn thấy đáp số vì trên thực tế nhiều nước tiên tiến như Nhật  đã giải rồi. Vấn đề là ở Việt Nam  chúng ta nên  giải nó như thế nào? Khó không có nghĩa là không làm hay “há miệng chờ sung” bởi nếu không giải được bài toán đó,  chúng ta sẽ mãi là những  kẻ bộ hành quờ quạng trong đường hầm không tìm   thấy lối ra.


(1) Cả nước sử  dụng một bộ sách giáo khoa duy nhất do bộ giáo dục biên soạn và xuất bản.

(2) Ở Nhật pháp luật quy định giáo dục nghĩa vụ là 9 năm cho nên nhà nước mua sách giáo khoa và cấp phát miễn phí cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 9.

(3) Do bộ giáo dục Nhật biên soạn và ban hành trong đó tóm lược về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy trong các trường phổ thông. Khoảng 10 năm bộ giáo dục Nhật lại tiến hành sửa đổi bản hướng dẫn giảng dạy  một lần. Mỗi lần sửa đổi có thể coi là một cuộc cải cách giáo dục.  Bản Hướng dẫn giảng dạy đầu tiên ban hành năm 1947 và bản hướng dẫn giảng dạy mới nhất ban hành tháng 3 năm 2008.

(4) Hồ sơ giờ học là những ghi chép toàn diện về giờ học của giáo viên  phục vụ cho công tác nghiên cứu. Trong hồ sơ giờ học có ghi đầy đủ và khách quan về giáo án, tài liệu, dụng cụ giảng dạy đã sử dụng, diễn biến giờ học, hoạt động của thầy-trò, ý kiến của học sinh đặc biệt là cảm tưởng, các ý kiến tranh luận của học sinh( những ý kiến này tuy được giáo viên chép lại hoặc  thu thập từ  các tờ giấy theo mẫu mà giáo viên đã phát  cho học sinh nhưng được giữ nguyên cả văn phong, các lỗi sai về từ vựng, ngữ pháp để đảm bảo tính khách quan ở mức cao nhất có thể). Hiện nay giáo viên ở Nhật có sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại như máy quay phim kĩ thuật số, máy ghi âm nên việc lập hồ sơ giờ học trở nên dễ dàng hơn.

(5) Để đảm bảo quyền riêng tư,  trong hồ sơ giờ học tên học sinh thường được kí hiệu là A, B, C hoặc dùng tên giả. Chỉ có  giáo viên đã tiến hành giờ học đó mới biết chính xác học sinh đó là ai.

(6) Chiến tranh Nga-Nhật( 1904-1905)

Hoa Anh Đào mãn khai và sự canh tân của nước Nhật

Tác giả: Nguyễn Trọng Bình (California, USA)

Hình ảnh hoa Anh đào mãn khai đã đi vào văn hoá Nhật! Tầng lớp Samurai (trong lịch sử Nhật, tiêu biểu cho tầng lớp trí thức) vẫn thường tự ví vai trò của mình như hoa Sakura, mãn khai trong mùa xuân, và họ đã làm nên vai trò lịch sử của họ từ thời kỳ Minh trị Duy Tân cho đến ngày nay.

Hoa Anh Đào mãn khai bốn mùa

Trong khung cảnh mùa xuân, một thông tin về thành tựu trong nghiên cứu về cây hoa Anh Đào (Sakura) của trung tâm nghiên cứu Riken, Nhật bản, làm những người yêu hoa anh Đào phải chú ý. Đó là tin trung tâm nghiên cứu này đã tạo ra được giống hoa Anh Đào nở cả bốn mùa. Nước Nhật vốn nổi tiếng là xứ hoa Anh Đào, dù cho hoa Anh Đào cho đến nay chỉ nở một mùa xuân.

Theo nghiên cứu thực vật thì cây Anh Đào cần phải có một thời gian lạnh rét tối thiểu 8,000 giờ của mùa Đông, để rồi hoa bừng nở rộ, mãn khai, khi xuân về với khí hậu ấm áp hơn.

Bấy lâu nay cảnh hoa Anh đào mãn khai đã đi vào văn hoá Nhật! Tầng lớp Samurai (trong lịch sử Nhật, tiêu biểu cho tầng lớp trí thức) vẫn thường tự ví vai trò của mình như hoa Sakura, mãn khai trong mùa xuân, và họ đã làm nên vai trò lịch sử của họ từ thời kỳ Minh trị Duy Tân cho đến ngày nay.

 

Đứng trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kỹ nghệ Phương Tây, sau sự kiện mấy viên đạn đại bác của Perry nã vào cửa khẩu Hoành Tân (Yokohama), trước những lời đề nghị canh tân của tầng lớp trí thức Nhật Bản mà biểu tượng là tầng lớp Samurai đương thời, chính quyền phong kiến trung ương của nhà vua Nhật đã thức tỉnh và nước Nhật đã kịp canh tân, thoát được cơ chế lạc hậu của phong kiến châu Á, bắt đầu canh tân triệt để theo Âu Mỹ.

Từ đó từng đoàn du học sinh Nhật Bản đã được cử ra các nước Âu Mỹ du học và trở về tiếp sức cho sự cải cách, Âu hoá của Nhật đặt nền móng cho cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và từ đó phát triển bền vững, đưa nước Nhật từ một nước phong kiến lạc hậu như các nước Á châu khác (tương tự như đất nước chúng ta ngày ấy) trở thành một cường quốc như ngày hôm nay.

Nếu ai đã từng sống qua mùa hoa Anh Đào mãn khai ở Nhật sẽ thấy hoa nở rộ với ánh phớt hồng sáng rực trong nắng, đã tạo ra mùa xuân đặc thù ở Nhật Bản và sau đó là những trận mưa hoa, do những cánh hoa Sakura bay trong những cơn gió xuân thành cơn “mưa hoa” trong nắng, dĩ nhiên là mưa hoa này không hề có nước mưa.

Hoa Sakura nở rộ như một đóng góp của hoa Anh Ðào cho mùa xuân Nhật Bản mà không một đòi hỏi gì cả! Xuân đến là hoa Anh đào nở rộ, mãn khai! Tự nhiên vậy thôi.

Và những lớp trí thức nỗ lực canh tân

Ngày còn là nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Nhật, khi nói chuyện ngoài lề, sau việc nghiên cứu, về văn hóa Nhật, thầy tôi thường kể cho nghe thêm những nét đặc sắc trong văn hoá Nhật và sự nhận lãnh trách nhiệm của người trí thức Nhật, xưa kia là giới Samurai, trong xã hội Nhật của thế hệ thầy tôi.

Tôi đã rất xúc động trước câu chuyện của thầy kể về Samurai từng ví mình như hoa Anh đào qua câu truyện thầy tôi kể về Hoa Anh Ðào nở rộ làm đẹp mùa xuân Nhật Bản và hoa đã nở là nở mãn khai cho mùa xuân, và tự nhiên như vậy thôi, không có một “yêu cầu, đòi hỏi” gì cả!

Có thể vì sự tương tác hài hòa giữa cơ chế lãnh đạo và tầng lớp trí thức Nhật Bản đã đưa nước này đạt được những thành qũa như ngày hôm nay.

Phải chăng lãnh đạo cơ chế của Nhật luôn có những thay đổi nhanh chóng kịp thời với thời cuộc đổi thay của tình hình quốc tế và quốc nội để có được hướng đúng đắn nhất cho phát triển đất nước? Phải chăng vì cơ chế quốc gia luôn nhận được sự đóng góp tích cực của tầng lớp trí thức Nhật? Phải chăng nhiệt tâm của tầng lớp trí thức Nhật là sự trở về canh tân của giới du học sinh Nhật đối với quê hương của họ?

 

Thực tế cho thấy trong số tất cả du học sinh quốc tế đến du học tại các nước Âu Mỹ, hầu hết các du học sinh Nhật Bản sau thời gian du học hoặc thực tập xong đều trở về đóng góp cho sự tiến bộ của quê hương họ. Tỷ lệ về nước của du học sinh Nhật từ trước đến nay bao giờ cũng là con số cao nhất.

Thầy tôi nay đã qua đời, ông là một người trong tầng lớp trí thức Nhật Bản sau thời Minh trị Duy Tân nhiều chục năm, khi Nhật Bản đang bắt đầu vươn lên từ nền móng công nghiệp vừa đạt được, ông được tham gia đóng góp khi nước Nhật đang trong giai đoạn Âu Mỹ hoá (triệt để).

Sự tương tác giữa mùa xuân và hoa Anh đào đã làm nên mùa xuân Nhật Bản thật kỳ diệu.

Khi mùa xuân đến, hoa Anh Đào nở rộ, nếu đang ở Nhật, bạn sẽ cảm thấy hoa Anh đào đã và đang “nở hết mình” để tạo ra mùa xuân Nhật bản, và mùa xuân ấy nổi tiếng khắp năm châu.

Trời không có xuân, Anh Đào không thể nở đẹp; không có Anh Đào nở mãn khai không thể làm thành mùa xuân của đất nước mặt trời mọc.

Khi nhận được tin hoa Sakura nở bốn mùa từ phòng nghiên cứu của Riken, Tokyo tôi vui vì đó là thành tựu của nghiên cứu, vì có thể sẽ biến đất nước xứ hoa anh đào thành đất nước “bốn mùa là xuân hoa nở”. Nhưng cũng không khỏi có vài ý nghĩ trăn trở tự hỏi thoáng qua, liệu sau này còn ai nhớ và nhắc đến các câu truyện lãng mạng về tầng lớp trí thức Nhật đã từng như hoa anh đào nở rộ trong mùa xuân của nước Nhật không? Hoặc làm sao Anh Ðào nở rộ khi xuân về?

Tôi tự xoá ngay đi trăn trở này khi kinh nghiệm đã qua cho thấy rằng người Nhật tuy đã Âu Mỹ hoá triệt để nhưng vẫn giữ được cốt tủy và bề sâu, dày của truyền thống văn hoá Nhật để thành lời ca “Mùa xuân sang có hoa Anh Đào”.

Sự thành công của khoa học, Nhật Bản tạo ra giống Anh đào mới có lẽ sẽ làm cho mùa xuân của Nhật Bản dài hơn. Công cuộc cải cách tại Nhật từ Minh trị đến nay cho thấy tầng lớp lãnh đạo chính trị và tầng lớp trí thức luôn đặt quốc gia và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lên hàng đầu.

Trời xuân, nhìn sắc hoa Anh Đào Nhật Bản không khỏi làm tôi rung động nghĩ tới một mùa xuân nơi quê cha đất tổ.

Thoát Á Luận – Fukuzawa Yukichi

Từ thế kỷ 19, Fukuzawa Yukichi (Nhật Bản) đã viết: “Đường giao thông trên thế giới là phương tiện để làn gió của văn minh phương Tây thổi vào phương Đông. Khắp mọi nơi, không có cỏ cây nào có thể ngăn được làn gió văn minh này”.

Thoát Á luận là tựa đề bài báo của Fukuzawa Yukichi, với nội dung thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa tiểu nông, cổ hủ lạc hậu, nặng về hình thức giả tạo bên ngoài của các nước châu Á mà Trung Quốc là điển hình, để học theo nền văn minh phương Tây và hội nhập vào thế giới bên ngoài.

Bài luận nổi tiếng này đã khơi nguồn cho dòng triết học Khai sáng của Nhật Bản, nền tảng tư tưởng và tinh thần của cuộc Canh tân Minh Trị đưa nước Nhật thoát khỏi nguy cơ lệ thuộc và phát triển ngang hàng với phương Tây cuối thế kỉ 19, đầu thế kỷ 20.

Xin giới thiệu bài luận này như một tư liệu để bạn đọc tham khảo.

—————————

Thử nghĩ mà xem, những người phương Tây từ thời cổ kim đến nay đều có cùng dòng dõi giống nhau và họ không khác nhau nhiều lắm. Nếu ngày xưa họ chậm chạp thì ngày nay họ di chuyển hoạt bát và nhanh chóng hơn chính là vì họ lợi dụng được thế mạnh của phương tiện giao thông đó mà thôi. Đối với chúng ta, những người sống ở phương Đông, trừ khi chúng ta có quyết tâm vững chắc muốn chống lại xu thế văn minh phương Tây thì chúng ta mới có thể chống đỡ được, còn nếu không tốt nhất là chúng ta hãy cùng chia sẻ chung số mệnh với nền văn minh ấy.

Nếu chúng ta quan sát kĩ lưỡng tình hình thế giới hiện nay, chúng ta sẽ nhận thấy được rằng chúng ta không thể nào chống lại được sự tấn công dữ dội của nền văn minh ấy. Vậy tại sao chúng ta không cùng nhau bơi nổi trên biển văn minh ấy, cùng nhau tạo ra một làn sóng văn minh ấy, cùng nhau nỗ lực xây dựng và hưởng lạc những thành quả của nền văn minh ấy?

Làn gió văn minh như là sự lan truyền của dịch bệnh sởi. Hiện giờ dịch bệnh sởi khởi phát từ vùng miền tây ở Nagasaki đang lan truyền về phía đông tới vùng Tokyo nhờ tiết trời ấm áp của mùa xuân. Thời điểm này chúng ta sợ sự lan truyền của dịch bệnh này thì phải tìm phương thuốc, nhưng liệu có phương thuốc nào có thể ngăn chặn sự lây lan này không? Tôi có thể chứng minh rằng chúng ta không có một phương thuốc nào ngăn chặn được dịch bệnh cả. Cho dù chúng ta có ngăn chặn được dịch bệnh có thể lây lan này thì hậu quả là con người chúng ta sẽ chỉ có hư hỏng mà thôi.

Trong nền văn minh ấy có cả lợi lẫn hại song song, nhưng lợi luôn nhiều hơn hại, sức mạnh của những điều lợi đó không gì có thể ngăn cản được. Đó chính là điểm mà tôi muốn nói rằng chúng ta không nên tìm cách ngăn cản lại sự lan truyền của nền văn minh ấy. Là những người trí thức, chúng ta hãy góp sức giúp cho sự lan truyền của làn sóng văn minh đó tới toàn dân trong nước để họ thấy được và làm quen với nền văn minh ấy càng sớm càng tốt. Làm được như vậy chính là sự nghiệp của những người trí thức.
Nền văn minh phương Tây đang xâm nhập vào Nhật Bản và có thể tính bắt đầu từ chính sách mở cửa của nước nhà vào thời Gia Vĩnh (Kaei, 1848-1854). Người dân trong nước bắt đầu biết đến những giá trị hữu ích của nền văn minh ấy, và đang dần dần tích cực hướng tới tiếp nhận nền văn minh ấy. Nhưng con đường tiến bộ tiếp cận nền văn minh đang bị cản trở bởi chính phủ già nua lỗi thời. Cho nên đó là vấn đề không thể giải quyết được. Nếu chúng ta duy trì chính phủ hiện nay thì nền văn minh chắc chắn không thể xâm nhập vào được. Đó là vì nền văn minh hiện đại không thể song song tồn tại được cùng với những truyền thống Nhật Bản. Nếu chúng ta tìm cách thoát ra khỏi những truyền thống cũ kĩ đó thì đồng nghĩa với việc phải hủy bỏ chính phủ đương thời đi. Thế thì đương nhiên, nếu chúng ta ngăn cản lại nền văn minh đang xâm nhập vào Nhật Bản thì chúng ta không thể giữ gìn được nền độc lập của chúng ta. Dù thế nào đi chăng nữa thì sự náo động mãnh liệt của nền văn minh thế giới không cho phép vùng Đảo Đông Á cứ tiếp tục ngủ trong sự cô độc nữa.
Trong thời điểm hiện nay, những sĩ phu Nhật Bản chúng ta hãy dựa trên cơ sở đại nghĩa “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, thêm nữa chúng ta có cơ may được dựa trên thánh chỉ tôn nghiêm của Thiên Hoàng, nhất định chúng ta phải từ bỏ chính phủ cũ, thành lập chính phủ mới, không phân biệt quan lại triều đình và thần dân, toàn dân trong nước tiếp thu nền văn minh hiện đại phương Tây. Nếu chúng ta làm được như vậy, chúng ta không những có thể thoát ra khỏi sự trì trệ lạc hậu cũ kĩ của nước Nhật Bản mà còn có thể đặt lại được một trật tự mới trên toàn Châu Á. Chủ trương của tôi chỉ gói gọn trong hai chữ “Thoát Á”.

Nước Nhật Bản chúng ta nằm tại miền cực đông Châu Á, giá như chúng ta có tinh thần dân tộc thoát ra khỏi những thói quen cổ hủ của Châu Á mà tiếp cận tới nền văn minh phương Tây thì chúng ta đã có thể hoà nhập với nền văn minh phương Tây rồi. Tuy nhiên, thật không may cho Nhật Bản chúng ta, bên cạnh nước chúng ta có hai nước láng giềng, một nước gọi là Chi Na (Trung Quốc), một nước gọi là Triều Tiên. Cả hai dân tộc của hai nước này giống như dân tộc Nhật Bản chúng ta đều được nuôi dưỡng theo phong tục tập quán, tinh thần và nền giáo dục chính trị kiểu Châu Á cổ lai hi. Tuy nhiên, có lẽ do nhân chủng khác nhau, hoặc do quá trình di truyền khác nhau, hoặc do nền giáo dục khác nhau nên có sự khác biệt đáng kể giữa ba dân tộc. Dân tộc Trung Quốc và Triều Tiên giống nhau nhiều hơn và không có nhiều điểm giống với dân tộc Nhật Bản. Cả hai dân tộc này đều không biết đường lối phát triển quốc gia tự lập.
Ngày nay, trong thời đại phương tiện giao thông tiện lợi, cả hai dân tộc không thể không nhìn thấy được sự hiện hữu của nền văn minh phương Tây. Nhưng họ lại cho rằng những điều mắt thấy tai nghe về nền văn minh phương Tây như vậy cũng không làm họ động tâm động não. Suốt hàng nghìn năm họ không hề thay đổi và vẫn quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ bảo thủ. Giữa thời buổi văn minh mới mẻ và đầy khí thế ngày nay mà khi bàn luận về giáo dục thì họ thường lên tiếng giữ gìn nền giáo dục Nho học (Hán học), bàn về giáo lý của trường học thì họ chỉ trích dẫn những lời giáo huấn “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”, và chỉ phô trương coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo, thực chất họ coi thường chân lí và nguyên tắc, còn đạo đức thì hung hăng tàn bạo và vô liêm xỉ không lời nào tả xiết, đã vậy họ lại còn kiêu căng tự phụ.
Theo đánh giá của tôi, trong tình hình lan truyền mạnh mẽ của nền văn minh phương Tây sang phương Đông như hiện nay, hai nước ấy không thể giữ gìn được nền độc lập. Nếu trong hai nước ấy, xuất hiện những nhân tài kiệt xuất mở đầu bằng công cuộc khai quốc, tiến hành cuộc đại cải cách chính phủ của họ theo quy mô như phong trào Duy Tân (Minh Trị Duy Tân) của chúng ta, rồi cải cách chính trị, đặc biệt là tiến hành các hoạt động đổi mới nhân tâm và cách suy nghĩ thì may ra họ mới giữ vững được nền độc lập, còn nếu không làm được như vậy thì chắc chắn chỉ trong vòng vài năm tới hai nước sẽ mất, đất đai của các hai nước ấy sẽ bị phân chia thành thuộc địa của các nước văn minh khác trên thế giới. Vậy lý do tại sao? Đơn giản thôi, vì tại thời điểm mà sự lan truyền của nền văn minh và phong trào khai sáng (bunmei kaika) giống như sự lan truyền bệnh sởi, hai nước Trung Quốc và Triều Tiên đã chống lại quy luật lan truyền tự nhiên ấy của nền văn minh. Họ quyết liệt tìm cách chống lại sự lan truyền nền văn minh ấy ví như họ tự đóng chặt cửa sống trong phòng khép kín không có không khí lưu thông thì sẽ bị chết ngạt.
Tục ngữ có câu “môi hở răng lạnh”, nghĩa là các nước láng giềng không thể tách rời được nhau và giúp đỡ lẫn nhau, nhưng hai nước Trung Quốc và Triều Tiên trong thời điểm hiện nay không đóng vai trò giúp đỡ một chút nào cho nước Nhật chúng ta cả. Dưới nhãn quan của người phương Tây văn minh, họ nhìn vào những gì có ở hai nước Trung Quốc và Triều Tiên thì sẽ đánh giá nước Nhật chúng ta cũng giống hai nước ấy, có nghĩa là họ đánh giá ba nước Trung – Hàn – Nhật giống nhau vì ba nước cùng chung biên giới. Lấy ví dụ, chính phủ Trung Quốc và Triều Tiên chuyên chế cổ phong và không có hệ thống pháp luật nên người phương Tây cũng nghĩ rằng Nhật Bản chúng ta cũng là một nước chuyên chế và không có luật pháp. Các sĩ phu hai nước Trung Quốc và Triều Tiên mê tín hủ lậu không biết đến khoa học là gì thì học giả phương Tây nghĩ Nhật Bản chúng ta cũng chỉ là một nước âm dương ngũ hành. Nếu người Trung Quốc hèn hạ không biết xấu hổ thì nghĩa hiệp của người Nhật cũng bị hiểu nhầm. Nếu ở Triều Tiên có hình phạt thảm khốc thì người Nhật cũng bị người phương Tây coi là không có lòng nhân ái. Chúng ta có thể nêu ra biết bao nhiêu ví dụ cũng không hết được.

Lấy những ví dụ này, tôi ví trường hợp nước Nhật Bản bên cạnh các nước Trung Quốc và Triều Tiên không khác gì trường hợp trong một làng có một người sống bên cạnh toàn những người ngu đần, vô trật tự, hung bạo và nhẫn tâm thì dù người đó có là người đúng đắn lương thiện đến đâu đi chăng nữa cũng bị nhiều người khác cho rằng là “cá mè một lứa”, cũng chẳng khác gì những người hàng xóm. Khi những vụ việc rắc rối này sinh sôi nảy nở có thể gây ảnh hưởng trở ngại lớn tới con đường ngoại giao của chúng ta. Thực tế này là một đại bất hạnh cho nước Nhật Bản!
Vì vậy, nhằm thực hiện sách lược của chúng ta thì chúng ta không còn thời gian chờ đợi sự khai sáng (enlightenment, bunmei kaika) của các nước láng giềng Châu Á để cùng nhau phát triển được mà tốt hơn hết chúng ta hãy tách ra khỏi hàng ngũ các nước Châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây. Chúng ta không có tình cảm đối xử đặc biệt gì với hai nước láng giềng Trung Quốc và Triều Tiên cả, chúng ta hãy đối xử với hai nước như thái độ của người phương Tây đối xử. Tục ngữ có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, nghĩa là nếu chúng ta chơi với những người bạn xấu, thì chúng ta cũng trở thành người xấu. Đơn giản là chúng ta đoạn tuyệt kết giao với những người bạn xấu ở Châu Á!

Chính quyền Minh Trị Nhật Bản

Chính quyền thời kì Minh Trị  Nhật Bản (1868-1911) là một sự tiến triển về thể chế và cấu chúc từ trật tự phong kiến của Mạc phủ Tokugawa đến chế độ quân chủ lập hiến bao gồm thể chế dân chủ đại diện.

Sự phát triển ban đầu

Sau cuộc Minh Trị Duy Tân, các lãnh tụ samurai lật đổ Mạc phủ Tokugawa không có một chương trình nghị sự hay kế hoạch phát triển nào cho nước Nhật. Họ có nhiều điểm chung – phần lớn đều ở độ tuổi giữa 30, và phần lớn đều đến từ bốn phiên tozama ở phía Tây Nhật (Choshu, Satmuma, Tosa và Hizen). Mặc dù xuất thân từ các gia đình samurai cấp thấp, họ đã vươn đến vị trí lãnh đạo quân sự ở phiên mình, và trưởng thành trong bối cảnh nền giáo dục dựa trên Nho giáo vốn nhấn mạnh đến lòng trung thành và phục vụ xã hội. Cuối cùng, phần lớn đều có kinh nghiệm trực tiếp khi ra nước ngoài, hay qua mối qua hệ với các cố vấn nước ngoài tại Nhật Bản. Kết quả là, họ biết được sức mạnh vượt trội của các quốc gia phương Tây và sự cần thiết thống nhất nước Nhật, và tụ cường để tránh khỏi số phận thuộc địa như các láng giềng khác trên lục địa Á châu.

Tuy vậy, năm 1867, đất nước phần lớn chỉ là sự tập hợp các phiên bán độc lập tụ họp lại với nhau bằng sức mạnh quân sự của Liên minh Satcho, và nhờ uy tín của triều đình.

Đầu tháng 3 năm 1868, trong khi kết quả của  Chiến tranh Boshin vẫn còn chưa ngã ngũ, triều đình Minh Trị triệu tập đại biểu từ mọi phiên đến Kyoto để thành lập Hội đồng tư vấn quốc gia lầm thời. Tháng 4 năm 1868, Ngũ cá điều ngư thê văn được ban bố, theo đó, Thiên hoàng Minh Trị vạch ra những nét chung cho sự phát triển và hiện đại hóa của Nhật Bản.

Hai tháng sau, vào tháng 6 năm 1868, Seitaisho được ban bố thiết lập nền tảng hành chính cho triều đình Minh Trị. Bộ luật hành chính này được Fukuoka Takachika và Soejima Taneomi,phác thảo (cả hai đều đã đi du học và có quan điểm chính trị tự do), và là một sự kết hợp kỳ lạ của các định nghĩa phương Tây ví dụ như tản quyền, và sự phục hồi cấu trúc quan liêu cổ đại của thời Nara Nhật Bản. Một cấu trúc chính quyền trung ương, hay Daijokan (Thái Chính Quan), được thành lập.

Daijokancó 7 cơ quan:

Lập pháp (được chia thành Thương viện của các quan chức được bổ nhiệm, và Hạ viện từ đại diện các phiên)

Hành pháp

Thần đạo

Tài chính

Chiến tranh

Ngoại vụ

Nội vụ

Một Bộ Tư pháp riêng được lập ra để tạo ra sự phân tách quyền lực như các nước phương Tây.

Trong lúc đó, hành chính địa phương bao gồm các lãnh thổ tịch thu từ nhà Tokugawa, được chia thành các tỉnh (ken) và các thành phố trực thuộc trung ương (fu) dưới quyền của Bộ Nội vụ, và 273 phiên tự trị. Nhân viên từ chính quyền trung ương được cử đến mỗi phiên để đồng bộ nền hành chính và thích ứng với sự chỉ huy từ chính phủ trung ương.

Đầu năm 1869, hoàng cung được chuyển từ Kyoto đến Edo, và đổi tên thành Tokyo (Đông Kinh).

Giải thế các phiên

Tháng 3 năm 1869, chính quyền trung ương do Okubo Toshimichi từ Satsuma lãnh đạo cảm thấy đủ mạnh để thực hiện việc tập quyền hơn nữa. Sau khi sáp nhập quân đội Satsuma và Chōshū làm một, Ōkubo và Kido Takayoshi thuyết phục daimyō của Satsuma, Choshu, Hizen và Tosa  dâng lãnh địa của mình cho Thiên hoàng. Các daimyō khác bị ép buộc phải làm vậy, và tất cả đều được tái bổ nhiệm làm “thống đốc” phần lãnh địa của mình, nay được đối xử như các đơn vị cấp dưới của chính quyền trung ương.

Mùa xuân năm 1871, Ōkubo, Kido, Ōkubo, Kido, Inoue Kaaorru, Yamagata Aritomo, Saigo Takamori, Oyama Iwao, Sanjo Sanetomi và Iwakura tổ chức một cuộc gặp gỡ bí mật theo đó quyết định việc tiến lên giải thế triệt để các “han” (phiên). Cuối năm đó, tất cả các cựu daimyō được triệu tập đến trước Thiên hoàng, và ông ban chiếu cải biến các lãnh đại thành các tỉnh đứng đầu bởi một vị quan do chính quyền trung ương bổ nhiệm. Các daimyō được trả tiền lương hưu hào phóng, và lâu đài của họ trở thành trung tâm hành chính địa phương của chính phủ trung ương. Chiếu chỉ dẫn đến 305 đơn vị hành chính địa phương, qua nhiều sự sáp nhập, giảm xuống còn 72 tỉnh và 3 thành phố cho đến cuối năm. Vì vậy, đến cuối năm 1871, Nhật bản đã trở thành một quốc gia tập quyền hoàn toàn. Sự chuyển đổi này diễn ra dần dần, vì vậy không phá vỡ đời sống của người dân thường, và không làm bùng nổ sự phản kháng hay bạo lực. Chính quyền trung ương nhận về mọi khoản nợ và nghĩa vụ của các phiên, và các cựu viên chức tại các phiên giờ làm việc cho chính phủ trung ương.

Năm 1871, triều đình trung ương ủng hộ việc thành lập các hội đồng tư vấn tại cấp chính quyền thấp nhất, tại các thị trấn, làng mạc và hạt. Thành viên của hội đồng cấp tỉnh được lấy từ các hội đồng địa phương này. Và vì hội đồng địa phương chỉ có quyền tranh luận, không có quyền lập pháp, điều này cung cấp một van an toàn quan trọng, không có khả năng thách thức quyền lực của chính quyền trung ương.

Tái tổ chức chính quyền trung ương

Trong khi các phiên bị giải thể và đường biên hành chính địa phương được thay đổi, vào tháng 8 năm 1869, chính quyền trung ương tự mình trải qua một vài sự tái cơ cấu để củng cố quyền lực tập trung. Tư tưởng tản quyền bị từ bỏ. Chính quyền mới dựa trên Quốc hội (chỉ họp một lần), một Hội đồng Cố vấn (Sangi), và 8 bộ trưởng:

Nội vụ (Nội Vụ tỉnh (Nhật Bản) từ 1873)

Ngoại Vụ tỉnh (Nhật Bản)

Tài Vụ tỉnh (Nhật Bản)

Lục Quân tỉnh (Nhật Bản)

Cung nội sảnh

Pháp Vụ tỉnh (Nhật Bản)

Quốc thổ giao thông tỉnh (Nhật Bản)

Văn bộ tỉnh

Việc đưa ra quyết định trong chính quyền bị giới hạn bởi nhóm đầu sỏ chính trị  thân cận gồm khoảng 20 cá nhân )từ Satsuma, Choshu, Tosa, Hizen và từ triều đình). Nội vụ tỉnh, vì nó bổ nhiệm tất cả các thống đốc tỉnh, và kiểm soát bộ máy cảnh sát là cơ quan quyền lực nhất chính phủ, và đáng chú ý rằng Okubo rời Tài vụ tỉnh để đứng đầu Nội vụ tỉnh khi nó được thành lập.

Các sự kiện dẫn đến việc Okuma từ nhiệm

Một trong các sức ép với chính phủ Minh Trị non trẻ là sự chia rẽ giữa các thành viên trong nhóm đầu sỏ chính trị ưa thích các loại hình chính phủ đại nghị khác nhau, dựa trên các kiểu mẫu nuowcs ngoài, và phái bỏ thủ ủng hộ sự thống trị độc tài, tập trung.

Một người đề xuất chính cho chính phủ đại nghị là Itagaki Taisuke, một lãnh đạo quyền lực từ Tosa, người đã rời khỏi vị trí ở Hội đồng Quốc gia sau Sự kiện Triều Tiên năm 1873. Itagaki tìm kiếm giải pháp hòa bình thay vì nổi loạn để giành được tiếng nói trong chính quyền. Ông khởi động phong trào với mục đích thiết lập nền quân chủ lập hiến và Quốc hội. Itagaki và những người khác viết Kỷ niệm Tosa năm 1874 chỉ trích quyền lực vô hạn của nhóm đầu sỏ chính trị và kêu gọi thành lập ngay lập tức chính phủ đại nghị. Không thỏa mãn với nhịp độ cải cách sau khi tái gia nhập Hội đồng Quốc gia năm 1875, Itagaki tổ chức những người đi theo mình và những người dân chủ khác vào Ái Quốc Công Đảng (Aikokusha) trên toàn quốc để thúc đẩy một chính thể đại nghị. Năm 1881, trong hành động nổi tiếng nhất của mình, Itagakii giúp thành lập Jiyūtō (Đảng Dân chủ), đi theo học thuyết chính trị Pháp. Năm 1882 Ōkuma Shigenobu thành lập Rikken Kaishintō (Lập hiên Cải tiến Đảng), kêu gọi nền dân chủ lập hiến kiểu Anh. Đáp lại, giới chức chính phủ, các viên chức địa phương và những người bảo thủ khác thành lập Rikken Teiseitō (Lập hiến Đế chính đảng), một đảng thân chính phủ, năm 1882. Theo đó là rất nhiều cuộc tuần hành chính trị, một số có cả bạo lực, dẫn đến sự hạn chế hơn nữa từ phía chính quyền. Sự hạn chế cản trờ các đảng chính trị và dẫn đến sự chia rẽ ở trong nội bộ và giữa các đảng. Jiyūtō, đối lập với Kaishintō, giải thế năm 1884, và Ōkuma rút khỏi vị trí Chủ tịch Kaishintō.

Thành lập quốc hội

Các nhà lãnh đạo chính quyền, từ lâu ám ảnh về đe dọa bạo lực với sự ổn định và bị chia rẽ vì vấn đề Triều Tiên, nói chung đồng ý rằng chính thể đại nghị sẽ được thành lập vào một ngày nào đó. Kido Takayoshi ủng hộ thể chế chính quyền lập hiến từ trước năm 1874, và vài lời đề xuất cung cấp sự bảo đảm hiến pháp đã được phác thảo. Nhóm đầu sỏ chính trị, tuy vậy, trong khi nhận thức được áp lực chính trị thực tại, quyết tâm duy trì quyền lực. Hội nghị Osaka năm 1875 dẫn đến việc tái tổ chức chính quyền với bộ máy tư pháp độc lập và bổ nhiệm Viện Nguyên lão có trách nhiệm xem xét các lời đề nghị về Hiến pháp. Thiên hoàng tuyên bố rằng “chính thể đại nghị sẽ được thành lập dần từng bước” khi ông ra lệnh cho Viện Nguyên lão soạn thảo Hiến pháp. Năm 1880, đại biểu từ 24 phiên tổ chức hội nghị toàn quốc để thành lập Kokkai Kisei Dōmei (Liên đoàn thành lập Quốc hội).

Mặc dù chính phủ không phản đối các quy định của nghị viện, đối đầu với việc thúc đẩy “nhân quyền”, nó tiếp tục cố kiểm soát tình hình chính trị. Các luật mới năm 1875 cấm báo chí phê phán chính quyền hay thảo luận về các bộ luật quốc gia. Luật hội họp công cộng (1880) hạn chế nghiêm khắc việc tụ tập công cộng bằng cách không cho phép các viên chức nhà nước có mặt và yêu cầu mọi buổi mítting phải có sự cho phép của cảnh sát. Tuy vậy, trong vòng kiềm tỏa của luật pháp, và bất chấp các bước đi mang tính bảo thủ của giới lãnh đạo, Okuma tiếp tục là người đơn độc chủ trương chính thể kiểu Anh, chính thể với các đảng chính trị và một nội các do đảng đa số tổ chức, chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Ông kêu gọi tuyển cử vào năm 1882, triệu tập quốc hội vào năm 1883; trong khi thực hiên việc đó, ông tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị kết thúc năm 1881 với một chiếu chỉ tuyên bố triệu tập quốc hội vào năm 1890 và sa thải Okuma khỏi chính phủ.

Từ bỏ chính thể kiểu Anh, Iwakura Tomomi và những người bảo thủ khác vay mượn chủ yếu từ hệ thống hiến pháp Phổ. Một trong các đầu sỏ chính trị Meiji, Itō Hirobumi, một người gốc Chōshū từ lâu tham dự vào các sự vụ chính phủ, được giao trách nhiệm soạn thảo hiến pháp Nhật Bản. Ông dẫn đầu phái đoàn học tập hiến pháp ra nước ngoài năm 1882, phần lớn thời gian ở Đức. Ông từ chối Hiến pháp Hoa Kỳ vì “quá tự do” và hệ thống kiểu Anh vì quá dễ dãi và có một quốc hội với nhiều quyền kiểm soát với triều đình; kiểu Pháp và Tây Ban Nha bị từ chối vì hướng đến chế độ chuyên quyền.

Củng cố quyền lực nhà nước

Khi Itō trở về, một trong những hành động đầu tiên của chính phủ là thiết lập hệ thống quý tộc kazoku với các cấp bậc mới cho quý tộc. 500 người từ quý tộc cũ trong triều, cựu daimyō, samurai và dân thường đã có đóng góp có giá trị cho chính phủ được chia thành 5 bậc: công, hầu, bá, tử, và nam.

Itō được giao phụ trách Cơ quan Điều tra hệ thống Hiến pháp năm 1884, và Hội đồng Quốc gia được thay thế năm 1885 bằng nội các, do Itō làm Thủ tướng. Vị trí Chưởng ấn quan, Tả Đại thần, và Hữu Đại thần, đã tồn tại từ thế kỷ 7 như các vị trí cố vấn cho Thiên hoàng, đều bị bãi bỏ. Thay vào đó, Cơ mật viện được thành lập năm 1888 để đánh giá hiến pháp sắp tới và tham mưu cho Thiên hoàng. Để củng cố hơn nữa quyền lực của nhà nước, Hội đồng chiến tranh tối cao được thành lập dưới quyền lãnh đạo của Yamagata Aritomo một người quê Chōshū nổi tiếng về việc thành lập Lục quân Đế quốc Nhật Bản hiện đại và sẽ trở thành người đầu tiên là Thủ tướng theo Hiến pháp. Hội đồng chiến tranh tối cao phát triển một hệ thống bộ tham mưu kiểu Đức với một Tổng tham mưu trưởng báo cáo trực tiếp với Thiên hoàng và có thể bổ nhiệm độc lập Bộ trưởng lục quân và các viên chức dân sự.

Hiến pháp Minh Trị và bầu cử

Khi cuối cùng được Thiên hoàng chấp nhận như là một dấu hiệu về việc chia sẽ quyền lực và trao quyền và sự tự do cho các thần dân của ông, Hiến pháp năm 1889 của Đế chế Nhật Bản (Hiến pháp Minh Trị) cho ra đời một Nghị viên Đế quốc (Teikoku Gikai), bao gồm một Chúng nghị viên bầu cử theo ý thích, với một giới hạn khắt khe cho nam công dân có thể trả ¥15 tiền thuế để đi bầu, khoảng 1% dân số; Quý tộc viện (Kizokuin), bao gồm quý tộc và những người do triều đình bổ nhiệm; và một Nội các chịu trách nhiệm trước Thiên hoàng và độc lập với cơ quan lập pháp. Nghị viện có thể chấp thuận các bộ luật do chính phủ khởi thảo, thay mặt cho chính quyền, và tập hợp các lời thỉnh nguyện lên Thiên hoàng. Tuy nhiên, bất chấp sự thay đổi thể chế, quyền lực tối cao vẫn nằm trong tay Thiên hoàng dựa vào nền tảng là nguồn gốc thần thánh của người. Hiến pháp mới định rõ một thể chế chính quyền vẫn có đặc điểm độc tài, với Thiên hoàng nắm quyền lực tuyệt đối và chỉ nhượng bộ tối thiểu cho dân quyền và cơ cấu nghị viện. Việc tập hợp các đảng phái được nhận ra là một phần của tiến trình chính trị. Hiến pháp Minh Trị sẽ vẫn là bộ luật cơ bản cho đến tận năm 1947.

Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức vào năm 1890, và 300 thành viên được bầu vào Hạ nghị viện. Hai đảng Jiyūtō và Kaishintō đã được tái lập để chuẩn bị cho cuộc tuyển cử và cùng nhau dành được hơn một nửa số ghế. Hạ nghị viện sớm trở thành vũ đài tranh cãi giữa các chính trị gia và chính phủ về rất nhiều vấn đề, ví dụ như ngân sách, sự tối nghĩa của hiến pháp về quyền lực của nghị viện, và mong muốn của Nghị viện muốn làm sáng tỏ “ý chí của Thiên hoàng” với vị trí của các đầu sỏ chính trị rằng nội các và chính phủ nên “vượt quá” các lực lượng chính trị xung đột. Đòn bẩy chính của Nghị viện là sự chấp thuận hay bác bỏ ngân sách, và nó đã nắm vững được quyền này từ đó về sau.

Trong những năm đầu của chính phủ lập hiến, điểm mạnh yếu của Hiến pháp Minh Trị đều được bộc lộ. Một nhóm nhỏ “elite” từ Satsuma và Choshu tiếp tục thống trị nước Nhật, được thể chế hóa bằng một thực thể vượt trên hiến của các genrō (nguyên lão). Các genro cùng nhau ra quyết định đã được dành trước cho Thiên hoàng, và các genro, chứ không phải Thiên hoàng, nắm nền chính trị của chính quyền. Tuy nhiên, trong suốt thời này, các vấn đề chính trị thường được giải quyết thông qua thương thảo, và các đảng chính trị dần gia tăng quyền lực của mình với chính phủ và kết quả là, họ giữ những vị trí ngày càng lớn hơn.

Đấu tranh chính trị

Sau những cuộc ganh đua chính trị quyết liệt từ khi thành lập Nghị viện năm 1890 đến năm 1894, khi quốc gia được thống nhất cho nỗ lực chiến tranh trước Trung Quốc, tiếp theo đó là 5 năm thống nhất, hợp tác bất bình thường, và chính phủ liên hiệp. Từ 1900 đến 1912, Nghị viện và nội các hợp tác thậm chí còn trực tiếp hơn, với các đảng chính trị đóng vai trò lớn hơn. Trong suốt thời kỳ này, các đầu sỏ chính trị cũ thời Meiji vẫn nắm giữ quyền kiểm soát tối cao nhưng dần nhượng lại quyền lực cho các đảng phái đối lập. Hai nhân vật chính của thời kỳ này là Yamagata Aritomo, người nắm giữ rất lâu vị trí lãnh đạo quân sự và dân sự (1868-1922), bao gồm hai nhiệm kỳ thủ tướng, tiêu biểu là sự hăm dọa của ông với các đối thủ và chống lại các thủ tục dân chủ, và Ito Hirobumi, một nhà đàm phán, mặc dù bị các genro bác bỏ, muốn thành lập đảng để kiểm soát Nghị viện trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Khi Ito trở lại ghế thủ tướng năm 1898, ông một lần nữa thúc đẩy một đảng chính quyền, nhưng khi Yamagata và những người khác từ chối, Ito từ nhiệm. Không có người nào trong số các genro muốn kế nhiệm, Kenseitō (Hiến chính đảng) được mời thành lập nội các dưới sự lãnh đạo của Okuma và Itagaki, một thành quả lớn của các đảng đối lập trong cuộc cạnh tranh với các genro. Thành công này khá ngắn ngủi: Kenseitō bị chia thành hai đảng, Kenseitō do Itagaki lãnh đạo và Kensei Hontō (Hiến chính thực đảng) do Ōkuma lãnh đạo, và nội các chấm dứt chỉ sau 4 tháng. Yamagata sau đó trở lại ghế thủ tướng với sự hậu thuẫn của giới quân sự và công chức. Bất chấp sự ủng hộ rộng rãi quan điểm hạn chế chính thể hiến pháp của ông, Yamagata lập liên minh với Kenseito. Cải cách của luật bầu cử, mở rộng Hạ viện lên 369 thành viên, và các điều khoản về bỏ phiến kín dành được sự ủng hộ của Nghị viện cho ngân sách và tăng thuế của Yamagata. Tuy vậy, ông tiếp tục sử dụng các sắc lệnh của hoàng gia, để giữ cho các đảng phái khỏi tham dự trực tiếp vào giới công chức và củng cố vị thế độc lập của quân đội. Khi Yamagata không thể thương thảo hơn nữa với Kenseito, liên minh chấm dứt vào năm 1900, bắt đầu một thời kỳ phát triển chính trị mới.

Itō trở thành Thủ tướng

Itō và người được bảo trợ, Saionji Kimmochi cuối cùng thành công trong việc thành lập đảng thân chính quyền—Kensei Seiyūkai (Hiệp hội những người bạn của chính phủ lập hiến) —vào tháng 9 năm 1900, và 1 tháng sau Itō trở thành Thủ tướng của nội các Seiyūkai đầu tiên. Seiyūkai giữ phần lớn ghế trong Hạ viện, nhưng liên minh bảo thủ của Yamagata có ảnh hưởng lớn nhất trong Thượng viện, buộc Ito phải tìm kiếm sự can thiệp của Thiên hoàng. Mệt mỏi vì các cuộc đấu đá chính trị, Ito từ chức năm 1901. Sau đó, vị trí thủ tướng do người được Yamagata bảo trợ, Katsura Tarō và Saionji thay nhau nắm giữ. Sự luân phiên quyền lực chính trị là sự biểu thị khả năng của hai bên hợp tác và chia sẻ quyền lực và giúp cổ vũ sự tiếp tục phát triển nền chính trị đảng phái.

Kết thúc thời kỳ Minh Trị

Thời kỳ Meiji kết thúc với cái chết của Thiên hoàng năm 1912 và mở ra thời kỳ Đại Chính (1912-26) với Thái tử Yoshihito lên làm vua, trở thành Thiên hoàng Đại Chính). Sự kết thúc thời kỳ Meiji được đánh dấu bằng các chương trình quân sự và đầu tư trong nước và ngoài nước của chính phủ, gần như cạn kiệt tiền mặt, và thiếu giao thương quốc tế để trả nợ. Sự mở đầu của thời kỳ Taisho được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng chính trị phá vỡ nền chính trị thỏa hiệp trước đó. Khi Thủ tướng Saionji cố cắt giảm ngân sách quân sự, Bộ trưởng lục quân từ chức, làm nội các Seiyukai đổ. Cả Yamagata và Saionji từ chối đảm nhiệm vị trí này, và các genro không thể tìm ra giải pháp. Công chúng giận dữ vì sự chi phối của giới quân sự với nội các và việc gọi lại Katsura đảm nhận nhiệm kỳ thứ 3 dẫn đến những yêu cầu khẩn thiết hơn cho việc chấm dứt nền chính trị genro. Bất chấp những đối thủ cũ, các lực lượng bảo thủ thành lập một đảng của riêng mình vào năm 1913, Rikken Dōshikai (Hiến chính Đồng chí hội), và Đảng này dành được đa số trước Seiyūkai trong cuộc tuyển cử cuối năm 1914.

Fukuzawa Yukichi – Nhà canh tân giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị

            Fukuzawa Yukichi là nhà giáo dục và học giả có thể nói là người ở bên ngoài chính quyền Nhật Bản có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn cuộc Canh Tân Minh Trị, lật đổ chế độ Tokugawa năm 1868. Ông lãnh đạo cuộc đấu tranh học tập những ý tưởng của phương Tây nhằm xây dựng “một nước Nhật Bản hùng mạnh và độc lập”.
                Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ. Trong tác phẩm Phúc ông Tự truyện viết năm 1901, trước khi mất ít lâu, Fukuzawa tuyên bố việc xóa bỏ mọi đặc ân phong kiến của triều đại Minh Trị và chiến thắng chế độ phong kiến Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật năm 1894-1895 để hình thành một nhà nước Nhật Bản hiện đại chính là ước mơ suốt cuộc đời ông. Fukuzawa chỉ tiếc rằng nhiều người bạn của ông đã không còn sống để chứng kiến những thành tựu vĩ đại này.

Sự nghiệp

            Ngày nay, trên đất nước Nhật Bản, chúng ta có thể nhìn thấy chân dung Fukuzawa Yukichi trên tất cả các tờ bạc 10.000 Yên, tờ bạc lớn nhất nước Nhật. Điều đó thể hiện sự ghi nhận của nhân dân Nhật Bản với những cống hiến to lớn của ông trong việc đưa những thể chế và tư tưởng của phương Tây vào Nhật Bản. Tuy nhiên, nhiều người có thể thắc mắc tại sao một người ca ngợi phương Tây như ông lại luôn mặc trang phục truyền thống của Nhật Bản. Trong rất nhiều bức hình của Fuzukawa, chỉ có một vài bức người ta thấy ông ăn vận theo trang phục phương Tây. Chính điều đó phản ánh lập trường vững chắc của ông: chú trọng đến những thay đổi cách mạng trong suy nghĩ, chứ không rập khuôn theo phương Tây một cách sai lệch.

            Lúc đầu Fukuzawa học tiếng Hà Lan, sau đó chuyển sang học tiếng Anh. Ông từng hai lần đến Mỹ và bôn ba khắp Châu Âu trong gần một năm trước khi nổ ra cuộc Duy tân Minh Trị (1868). Qua những chuyến đi này, ông đã tìm hiểu được những nền tảng căn bản của xã hội hiện đại đang phát triển ở phương Tây. Cũng chính ở đây, ông hiểu sứ mạng của mình là sự nghiệp giáo dục và nghề làm báo. Ngay sau chuyến đi thứ hai, ông bắt đầu mở trường học Keio-gijuku (Khánh Ứng Nghĩa Thục), nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước trong các lĩnh vực kinh tế, công nghiệp và chính trị. Ngày nay, trường đại học Keio là một trong những trường đại học lớn nhất Nhật Bản.

           Fukuzawa đã xuất bản rất nhiều sách chuyên môn và sách giáo khoa sử dụng trong các trường học hiện đại và cũng được rất nhiều tầng lớp độc giả khác nhau đón nhận. Những tác phẩm này hấp dẫn không chỉ vì những chủ đề mới lạ mà còn ở cách hành văn cách tân bình dị. Nhờ những cuốn sách được gọi là “sách Fukuzawa” này, người Nhật có cơ hội hiểu biết về nền văn minh mới. Ông cũng viết nhiều sách báo trào phúng về tình hình xã hội lúc bấy giờ, như chính trị, quan hệ quốc tế, các vấn đề kinh tế tài chính, chính sách giáo dục và quyền của người phụ nữ. Những tác phẩm này hầu hết được in ở nhà xuất bản của trường đại học và trên tờ Jiji-shimpo (Thời Sự Tân Báo) do ông mở năm 1882.

               Tư tưởng chủ yếu của Fukuzawa có thể tóm gọn trong một từ “Độc lập”. Ông cho rằng, độc lập của quốc gia cũng như của cá nhân chính là nền tảng của xã hội hiện đại phương Tây. Để đạt được mục tiêu độc lập thực sự, Nhật Bản cần thay thế phương pháp học truyền thống bằng việc dạy các ngành khoa học thực tiễn của phương Tây. Người dân càng được giáo dục thì nền độc lập quốc gia càng được khẳng định, Đồng thời sự thịnh vượng và đạo đức, cũng như chất lượng xã hội, sẽ tăng lên.

             Mặc dù Fukuzawa tiếp thu được rất nhiều từ các nhà tư tưởng phương Tây, nhưng ông không hoàn toàn bị ràng buộc hay sùng bái nền văn minh phương Tây. Hiểu rất rõ những nhược điểm của nó, nhưng ông vẫn thấy rằng, nền văn minh phương Tây tiên tiến hơn rất nhiều so với Nhật Bản và cho rằng Nhật Bản cần coi đó là một hình mẫu. Nhưng dường như ông cũng lường trước được những khó khăn sẽ phát sinh trong quá trình canh tân tư tưởng của người dân Nhật Bản.

Thời thơ ấu và những năm tháng học trò

             Fukuzawa sinh năm 1835 tại thành phố Osaka. Hai thế kỷ trước đó, Nhật Bản còn hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài, nhưng chỉ 19 năm sau, Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa. Những nhà cầm quyền của chính phủ Shogun và 260 lãnh địa không thể thích ứng với những thay đổi lớn lao đang diễn ra trong xã hội nên cố gắng một cách tuyệt vọng chống lại phong trào cải cách.

             Gia đình Fukuzawa sống ở Osaka, lúc đó là trung tâm thương mại của Nhật Bản. Cha ông chỉ là một viên thủ quỹ cấp dưới của lãnh địa Nakatsu (một thành phố nhỏ phía Bắc đảo Kyushu) và thuộc dòng dõi võ sĩ đạo lớp dưới với một vị trí rất khiêm tốn. Mặc dù cha của Fukuzawa không mấy thích thú với công việc đó, nhưng ông luôn làm việc trung thành cho đến khi qua đời đột ngột ở tuổi 44. Khi đó, Fukuzawa mới được 18 tháng. Người vợ góa phải quay trở về Nakatsu để nuôi dạy các con. Tiền trợ cấp bị cắt giảm khiến gia đình ông lâm vào cảnh nghèo đói và buộc phải kiếm sống bằng những công việc được trả lương thất thường. Bản thân Fukuzawa phải làm nghề chữa dép và các công việc thấp kém khác; mãi đến năm 14 tuổi ông mới được đến trường.

            Giáo dục cơ sở lúc bấy giờ được phân chia theo tầng lớp gia đình: gia đình võ sĩ đạo và gia đình thường dân. Con trai của các Samurai, tuổi từ 5-7, được học văn học cổ điển Trung Quốc từ người cha, họ hàng, hoặc từ các thầy đồ. Từ giữa thế kỷ 18, hầu hết các lãnh địa lớn đều mở trường học. Lãnh địa Nakatsu cũng có trường học riêng, nhưng việc tuyển sinh rất khắt khe, trong đó địa vị và tầng lớp gia đình là yếu tố quyết định. Con trai của Samurai lớp dưới sẽ không thể được vào học trong trường của lãnh địa.

                    Từ thế kỷ 16, người phương Tây đã đến Nhật Bản, nhưng đến đầu những năm 1640, việc này bắt đầu bị cấm. Chỉ có những thương nhân Hà Lan mới được phép ở lại trên hòn đảo nhỏ Dejima. Mọi giao tiếp với thế giới bên ngoài bị chính quyền Shogun kiểm soát rất chặt chẽ. Thương nhân, phiên dịch viên và binh lính phải có giấy phép đặc biệt mới được đến Dejima. Tuy vậy, những tri thức của phương Tây, đặc biệt là khoa học tự nhiên và y học, bằng nhiều cách vẫn lọt qua được những rào cản của vương triều Shogun và được phổ biến khắp đất nước.  Tám mươi năm trước thời Fukuzawa, một số thầy thuốc Nhật Bản đã đi tiên phong trong việc dịch cuốn Các sơ đồ giải phẫu của J.Akulumus (được xuất bản ở Amsterdam năm 1734). Mặc dù những ấn phẩm về kiến thức của phương Tây bị hạn chế nguồn cung cấp, bị kiểm soát chặt chẽ và đôi khi còn là mối nguy hiểm cho người học, nhưng nó vẫn cứ tồn tại.

              Ngay từ khi đi học, Fukuzawa đã sớm bộc lộ trí tuệ và khả năng của mình. Mặc dù rất xuất sắc trong lớp học, nhưng địa vị xã hội lại là điểm yếu của ông. Trong những cuộc vui đùa ở lớp, ông thường là chủ đề chế nhạo của những đứa bạn cùng lớp thuộc giai cấp samurai cấp cao. Thậm chí, sự phân chia giai cấp khắt khe đã ngăn cấm cả những cuộc hôn nhân giữa hai tầng lớp. Từ khi còn trẻ, Fukuzawa đã rất phẫn nộ với sự bất công đó (1).

              Việc hạm đội Mỹ xuất hiện vào mùa hè năm 1853 đã gây một cú sốc lớn trên khắp nước Nhật. Người anh trai của Fukuzawa (người được thừa hưởng địa vị của người cha) thúc giục ông tới Nagasaki học tiếng Hà Lan để nắm vững về súng ống phương Tây, hy vọng sau này ông sẽ phục vụ cho Thiên Hoàng. Fukuzawa nghe theo lời anh, dù ông không thực hiểu về ngôn ngữ Hà Lan và những mối đe dọa nào đang chờ đợi ông bên ngoài. Ông rời quê nhà trong tâm trạng đầy lo lắng.

              Họ tới Nagasaki một tháng trước khi Nhật và Mỹ ký kết “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị”. Cùng đi với Fukuzawa lần này còn có con trai của Ủy viên hội đồng lãnh địa Nakatsu. Hắn bịa chuyện mẹ của Fukuzawa bị ốm ở Nakatsu, đưa cho ông xem một bức thư giả mạo và thúc giục ông quay trở về nhà. Fukuzawa phát hiện ra sự dối trá này, nhưng ông vẫn quyết định rời Nagasaki. Tuy nhiên, ông đã không trở về nhà mà đi thẳng tới Edo (Tokyo ngày nay) để tiếp tục học tập. Chuyến tàu qua biển nội địa mất gần hai tuần lễ vì phải dừng lại rất nhiều lần. Trên đường đi, Fukuzawa đã rời tàu và đi bộ suốt đêm để tới kho hàng của lãnh địa Osaka nơi anh trai ông là Sannosuke đang làm việc. Người anh đã thuyết phục Fukuzawa ở lại và xin cho ông vào một trường học tiếng Hà Lan ở Tekijuku do bác sĩ Ogata Koan (1810-1863) phụ trách. Thực ra, trường học này không chỉ dạy về y học mà còn giáo dục lớp thanh niên như Fukuzawa đóng góp công sức cho việc xây dựng một nhà nước hiện đại (2).

                Trong ba năm ở lại Tekijuku, cả Fukuzawa và anh trai ông đều trở bệnh và được đưa về Nakatsu để điều trị. Nhưng người anh trai ông không qua khỏi. Sau đó, Fukuzawa xin mẹ cho phép ông được quay trở lại Tekijuku tiếp tục học (3).

             Chỉ một năm sau, Fukuzawa trở thành sinh viên đứng đầu lớp. Cùng với các bạn học của mình, ông tập trung nghiên cứu về vật lý, hóa học, sinh lý học và dịch một cuốn sách của Hà Lan về nghệ thuật xây dựng công sự.

Lên thủ đô và ra nước ngoài

                Mùa thu năm 1858, Fukuzawa được bổ nhiệm làm giáo viên dạy tiếng Hà Lan của lãnh địa Nakatsu. Tháng 7 năm 1859 đánh dấu sự kiện mở cửa ba cảng biển của Nhật theo các điều khoản của “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” được ký một năm trước đó với Mỹ và một số quốc gia Châu Âu. Ngay sau sự kiện này, Fukuzawa đã tới Kanagawa (ngày nay là thành phố Yokohama). Và ông đã vô cùng thất vọng khi không thể đọc cũng như hiểu những dòng chữ trên các biển hiệu. Lúc đó, tiếng Anh là ngôn ngữ chính của thành phố cảng này, nên ông quyết định học tiếng Anh, nhưng việc học tiến triển rất chậm vì ông không thể tìm được một người thầy giỏi cũng như một quyển từ điển hữu ích.

                Trong khuôn khổ các điều khoản của hiệp ước, vương triều Shogun quyết định cử một đoàn sứ giả sang Mỹ. Ngay lập tức, Fukuzawa tình nguyện đi theo đoàn. Mùa xuân năm 1860, sau 37 ngày lênh đênh trên biển, hứng chịu những trận bão liên tiếp, đoàn cũng tới được San Francisco. Trong suốt một tháng ở đây, thứ quan trọng nhất Fukuzawa thu thập được là một quyển từ điển của Webster và tấm hình ông chụp cùng con gái của người thợ ảnh. Như John Manjiro, người dịch cuốn từ điển này viết trong lời giới thiệu, đây chính là thứ vũ khí tri thức giúp Fukuzawa tìm hiểu nền văn minh hiện đại.

              Khi trở về, Fukuzawa được nhận vào văn phòng đối ngoại của chính quyền Shogun, làm công việc dịch các tài liệu ngoại giao. Một năm sau, ông kết hôn với Okin, con gái gia đình một võ sĩ đạo tầng lớp trên, cũng thuộc lãnh địa quê nhà. Năm 1867, một lần nữa Fukuzawa lại có cơ hội sang Mỹ. Lần này, ông tham gia phái đoàn tới Washington và New York với nhiệm vụ thương lượng mua tàu chiến của chính phủ Mỹ. Nhưng mục đích chính của Fukuzawa là tìm mua sách cho các sinh viên và ông đã mua sách bằng tất cả số tiền mà ông có.

              Tuy nhiên, chuyến đi có ý nghĩa nhất với Fukuzawa là chuyến đi Châu Âu để đàm phán về việc hoãn mở thêm cảng biển và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Cả hai cuộc đàm phán đều thất bại, nhưng ông đã có dịp đến Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nga và Bồ Đào Nha. Trong vai trò một người biên dịch, Fukuzawa đã quan sát được rất nhiều điều mới mẻ và các thể chế tổ chức như bệnh viện, kho vũ khí, hầm mỏ, trường học. Dựa vào những điều chứng kiến trong chuyến đi, Fukuzawa xuất bản tập đầu tiên của tác phẩm Thực trạng phương Tây (Seiyo jiijo) trong đó ông mô tả những phát hiện của mình. Tác phẩm này của ông được bán chạy nhất lúc bấy giờ.

              Fukuzawa nhận thấy tiến bộ kỹ thuật có vai trò quan trọng mang lại sự thịnh vượng ở phương Tây. Ông cho rằng những thay đổi cách mạng trong suy nghĩ và kiến thức của con người là yêu cầu cơ bản nhất đối với quá trình hiện đại hóa Nhật Bản. Trong thời gian ở Luân Đôn, ông viết một bức thư cho một người bạn ở quê nhà, nói rằng điều cấp thiết nhất cần phải làm là đào tạo những tài năng trẻ chứ không phải là việc mua sắm máy móc và vũ khí. Ông đã hoãn việc viết tiếp tập hai cuốn Thực trạng phương Tây để dành thời gian dịch cuốn Kinh tế chính trị của J. H. Burton. Trong một cuốn sách khác viết năm 1867, ông thảo luận về “những cột trụ chính yếu” và mạng lưới xã hội vô hình trong việc thiết lập nên xã hội văn minh.

              Trở về Nhật Bản, Fukuzawa bắt đầu mở trường học của riêng mình. Năm 1867, số học sinh của trường đã lên đến 100. Lịch làm việc của ông với chính quyền Shogun chỉ có sáu ngày trong một tháng, thời gian còn lại ông dùng để đọc, viết sách và giảng dạy. Việc những cuốn sách miêu tả cuộc sống phương Tây của ông rất được người dân Nhật Bản yêu thích cho thấy sự quan tâm của người dân Nhật Bản đối với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, có một số nhóm người lại muốn trục xuất “bọn man rợ” và những học giả Nhật quan tâm đến các công trình nghiên cứu về phương Tây. Những kẻ cuồng tín joi ronin (tức là một nhóm các võ sĩ đạo muốn xua đuổi những người nước ngoài) muốn tìm giết những người theo tư tưởng phương Tây nên tính mạng của những người như Fukuzawa luôn bị đe dọa. Trên thực tế, Bộ trưởng Quốc phòng Omura đã bị giết hại năm 1869.

Khuyến học

              Giữa những âm thanh hỗn loạn của tiếng súng trường từ một trận chiến chỉ cách trường Keio (4) vài kilômet, Fukuzawa vẫn tiếp tục bài giảng kinh tế chính trị như thường lệ (5). Đó là ngày mồng 4 tháng 7 năm 1868 và cuộc chiến giữa lực lượng nổi dậy chống lại chế độ phong kiến Tokugawa đang diễn ra ác liệt, Fukuzawa đã nói với học sinh của mình, lúc bấy giờ chỉ còn 18 người: “Cho dù có bất kỳ điều gì xảy ra, cho dù cuộc chiến tranh tàn phá đất nước ta như thế nào, chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ kiến thức của phương Tây. Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

             Những lời này đã cho thấy rõ tư tưởng của Fukuzawa – đó là việc giáo dục và tri thức của phương Tây. Sau khi chế độ Tokugawa ở Edo sụp đổ, chính quyền mới mời Fukuzawa tham gia vào bộ máy chính quyền nhưng ông từ chối vì muốn được tự do phán xét và viết báo phân tích về con đường phát triển của cả hai phe. Những năm sau đó, ông đã dành hết thời gian và công sức cho công việc giảng dạy ở trường Keio và góp sức lập thêm nhiều trường học mới. Ông cũng dịch và viết thêm nhiều cuốn sách nhỏ về phương Tây, viết sách giáo khoa cơ bản về nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, nghị viện Anh và quan hệ quốc tế.

            Trong số các cuốn sách của ông, cuốn Khuyến học (Gakumon no susume) được biết đến nhiều nhất (6). Cuốn sách này được khởi nguồn từ một loạt những bài luận được ông viết và xuất bản từ năm 1872 đến năm 1876. Bài luận đầu tiên chính là lời tuyên ngôn của Fukuzawa đối với công chúng. Trong phần mở đầu ông viết: “Thượng đế không sinh ra người này hơn hoặc kém người kia. Mọi sự bất bình đẳng giữa người khôn ngoan và người ngu ngốc, giữa người giàu và người nghèo đều xuất phát từ giáo dục”.

             Trong tác phẩm này, ông thúc giục người Nhật trước hết cần học bốn mươi bảy ký tự Kana của tiếng Nhật, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và dụng cụ đo đạc. Sau đó cần học những lĩnh vực khoa học khác như địa lý, vật lý, lịch sử, kinh tế và đạo đức.

                Những môn học trong nhóm đầu tiên đã được dạy có tên là terakoya, có nghĩa là trường đạo. Từ thế kỷ 17, mối quan hệ ràng buộc giữa trường đạo và đạo Phật dần được bãi bỏ và đến thế kỷ 18, trường đạo được đưa vào tiểu học mở cho con của các gia đình bình dân và con gái của các gia đình dòng dõi võ sĩ đạo ở tầng lớp dưới. Giáo viên trong trường là những samurai nghèo, trưởng làng, hoặc các thầy tu Shinto (Thần đạo của Nhật Bản). Vào thế kỷ 18, các thầy giáo Phật giáo còn rất hiếm, nhưng tới nửa đầu thế kỷ 19, terakoya mọc lên như nấm. Nhận thức được điều này, Fukuzawa nhấn mạnh rằng các môn học trong nhóm thứ hai cần được đưa vào giảng dạy tại các trường học hiện đại, bởi những môn này rất phát triển ở phương Tây nhưng không hề được dạy ở phương Đông.

             Ông chỉ trích mạnh mẽ chương trình giáo dục truyền thống ở Nhật, vốn chỉ chú trọng học thuộc những cuốn sách cổ xưa, thích thú đọc và làm thơ, nghiên cứu những điều không thực tế. Ông cho rằng giáo dục phương Tây là vô cùng cần thiết, nên thúc giục các học trò học các ký tự Kana và tham khảo thêm các sách giáo khoa đã được biên dịch. Ở mức độ cao hơn, cần hiểu được một ngôn ngữ phương Tây để có thể đọc trực tiếp. Thậm chí tới năm 1890, ông đã mời cả những giáo viên nước ngoài đến giảng dạy ở trường Keio.

             Fukuzawa cho rằng jitsugasu không chỉ mang lại độc lập cho cá nhân mà nó còn mang lại cả độc lập và tự do cho cả một đất nước. Ông tin đó chính là quyền của con người và kết luận: “Mỗi cá nhân và mỗi quốc gia, theo các qui luật của tạo hóa, đều hoàn toàn tự do. Do vậy, nếu như có bất kỳ mối đe dọa nào xâm phạm đến tự do của một đất nước thì đất nước đó sẽ không được ngần ngại dù thậm chí có phải chiến đấu chống lại tất cả các quốc gia trên thế giới”. Chính vì quan niệm này, ông cũng biên dịch rất nhiều sách về quân sự.

               Văn phong của Fukuzawa trong cuốn Khuyến học và trong các cuốn sách khác của ông hoàn toàn mới mẻ đối với Nhật Bản lúc bấy giờ. Trước đó, các cuốn sách ở Nhật đều được viết bằng tiếng Trung Quốc người bình dân khó có thể hiểu được, nhưng ông đã dùng một cách viết rất bình dị, mộc mạc, dễ hiểu, thậm chí đối với cả những người ít học. Khi đó, hầu như mọi người đều cho rằng tiếng Nhật không thích hợp cho việc diễn thuyết, nhưng ông đã tiến hành diễn thuyết trước công chúng và tổ chức những buổi tranh luận công khai để vận động cho chương trình này. Ngoài ra, ông cũng xây dựng một phòng họp lớn ở Đại học Keio, nơi ông, các đồng nghiệp và sinh viên thường tổ chức các cuộc thi tranh luận.

Sơ lược về Giáo dục ở Nhật Bản

1. Hệ thống giáo dục và hợp tác quốc tế
              Giữa những năm 1947 và 1950, hệ thống giáo dục Nhật Bản được thay đổi thành hệ thống 6-3-3-4 trên toàn quốc, 6 năm cho tiểu học, 3 năm cho trung học cơ sở, 3 năm cho trung học cho trung học phổ thông và 4 năm cho cao đẳng, đại học, là chuẩn mực giáo dục ở Nhật Bản.

                 Ở Nhật, hầu hết các trường tiểu học đều là trường công, chỉ có khoảng 0,7 trường tiểu học là trường tư. Các trường trung học cở sở cũng vậy, có đến 97% là trường công và chỉ có 3% là trường tư. Có khoảng 27% trường trung học phổ thông là trường tư. Học sinh ở khu vực nào phải theo học ở trường khu vực đấy, muốn học khác tuyến cũng không được. Nhật Bản đang cố gắng tiêu chuẩn hoá trình độ giáo viên trên toàn quốc để đảm bảo chất lượng giảng dạy. Ở Nhật Bản các trường tự tổ chức và chịu trách nhiệm tuyển giáo viên cho trường mình. Một giáo viên năm nay có thể phụ trách dạy lớp 1, nhưng năm sau có thể dạy lớp 3 hay lớp 5. Cũng thường xuyên quay vòng việc dạy cũng như chuyển dạy từ trường này sang trường khác.

2. Các nghiên cứu trong giáo dục

                  Tổ chức đánh giá giáo dục quốc tế đã tiến hành hai cuộc khảo sát so sánh chất lượng học tập của sinh viên trên toàn thế giới. Kết quả là ở Nhật Bản, sự khác biệt về năng lực và thành tích học tập của sinh viên giữa các trường là tối thiểu, có lẽ là ít nhất trên thế giới. Hầu hết sinh viên, học sinh Nhật Bản đều làm chủ chương trình học.
                Các chuyên gia giáo dục Nhật bản đã có nhiều dự án nghiên cứu về tình hình kinh tế – xã hội cũng như văn hoá lịch sử, lối sông người dân để tìm ra chươngt rình giáo dục phù hợp nhất cho mọi cấp. Người Nhật rất “dị ứng” với việc đem hệ thống giáo dục nước khác áp dụng vào nước mình. Có thể đó cũng là một yếu tố đưa hệ thống giáo dục Nhật Bản có được nhiều chuẩn mực riêng.
                 Thập niên 90, một báo cáo nhan đề “Một quốc gia lâm nguy” được công bố ở Mỹ nêu bật nhu cầu cải cách giáo dục tại Nhật Bản. Lãnh đạo hai nước Mỹ và Nhật tán thành rằng cần phải có một cuộc nghiên cứu, so sánh nền giáo dục giữa hai nước. Sau đo, một cuộc họp thương lượng đầu tiên được tổ chức ở Kyoto có 24 nước tham dự, kết quả: Có 2 bản báo cáo được công bố. Trong một bản, các nhà nghiên cứu Mỹ báo cáo về những điểm mạnh và điểm yếu của Nhật Bản, còn các bản báo cáo kia, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cũng tiến hành tương tự như vậy đối với nền giáo dục của Mỹ.

3. Đến sách giáo khoa học tập

                 Về sách giáo khoa, các công ty xuất bản liên hệ với các giáo sư và giảng viên các trường đại học chuyên về môn học nào đó để chuẩn bị sách giáo khoa. Những cuốn sách này sẽ trình lên Bộ Giáo dục thông qua. Tiêu chuẩn thông qua dựa trên các khoá học do Bộ tổ chức. Chỉ có những cuốn sách nàp đáp ứng được tiêu chuẩn mới được đưa vào thử nghiệm sử dụng ở trong nhà trường. Bộ có một bộ phận chuyên trách tuyển chọn sách giáo khoa cho từng cấp học, khá nghiêm túc. Nếu thanh tra giáo dục không thông qua cuốn sách nào đó, thì cuốn sách đó không được phép sử dụng trong nhà trường. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt khá lớn về thái độ của người phương Tây với người Nhật đối với sách giáo khoa. Hầu hết người Nhật không nghĩ sách giáo khoa chỉ là công cụ, mà chúng còn hàm chứa truyền thống, nhưng vấn đề là làm thế nào tự thoát ra khỏi những thái độ truyền thống đối với sách giáo khoa, vì sách giáo khoa mà chỉ mang nội dung truyền thống sẽ làm cho học sinh sợ khi buộc phải nhớ tất cả những thông tin đó. Nếu không sửa đổi sẽ không thể cải thiện giáo dục, đặc biệt những môn học xã hội. Ngày nay, những người biên tập sách giáo khoa đã có một quan điểm rõ ràng: Chính học sinh, sinh viên là những người sử dụng thật sự những cuốn sách giáo khoa đó, còn giáo viên chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của học sinh mà thôi.

Giáo Dục Nhật Bản

Đại học ở Nhật

Bốn giai đoạn phát triển của đại học Nhật

Quá trình phát triển đại học ở Nhật có thể chia làm các thời kỳ làm bốn giai đoạn như sau:  (1) Thời kỳ Tây phương hóa (1868-1886);  (2) Thời kỳ phát triển kỹ nghệ, chiến cách mạng kỹ nghệ và đại học (1886-1914); (3) Thời kỳ hậu tranh, và “bành trướng” của hệ thống đại học (1914-1945); và (4) chiến (1945 cho đến nay).

Giai đoạn 1: Tây phương hóa. Được khởi xướng từ thời Minh Trị Thiên Hoàng từ năm 1868. Trong giai đoạn này, Nhật cảm thấy bị đe dọa bởi các thế lực quân sự và kỹ nghệ của thế giới phương Tây, nhưng họ thấy đó là một cơ hội để tái cấu trúc hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế, chuẩn bị cho sự nghiệp kỹ nghệ hóa đất nước. Minh Trị nhận thức rằng Nhật cần phải nắm lấy và làm chủ những “know-how” của phương Tây.

Năm 1877, Đại học Tokyo được thành lập (trước đây trường này chỉ là một trường cao đẳng dạy ngoại ngữ và y học cổ truyền). Đại học Tokyo lúc đó có 4 khoa: luật khoa, khoa học, văn khoa và y khoa. Trong giai đoạn phát triển này, phần lớn giáo sư là người ngoại quốc. Trong số 36 giáo sư, có đến 23 người là giáo sư từ Anh, Pháp, Đức và Mỹ. Ngay cả những giáo sư người Nhật cũng là những người từng tốt nghiệp từ các nước vừa kể.

Trong thời gian 20 năm sau đó, có đến 400 giáo sư từ các nước phương Tây được Bộ Giáo dục Nhật mướn (hay mời) dạy tại các đại học và cao đẳng trên khắp nước Nhật. Không chỉ trong ngành giáo dục, Nhật còn mướn các chuyên gia phương Tây để làm việc và hướng dẫn trong các ngành như khai thác hầm mỏ, đường sắt, điện lực, điện tín, hãng xưởng…

Cùng lúc với sự hình thành của Đại học Tokyo, Nhật tích cực gửi sinh viên sang các nước phương Tây theo học tại các trường danh tiếng trên thế giới. Những “hạt nhân” đó sau này nắm giữ những chức vụ quan trọng trong hệ thống đại học và chính quyền.

Giai đoạn 2: Cách mạng kỹ nghệ và đại học. Giai đoạn này được đánh dấu qua việc thiết lập hệ thống “đại học vương triều” (Imperial University System), và định hướng rõ ràng rằng giáo dục phải phục vụ cho các mục tiêu của nhà nước. Năm 1890, [Đại học] Tokyo Imperial University được cho phép thành lập thêm một khoa mới: đó là khoa nông học. Năm 1897, [Đại học] Kyoto Imperial University được thành lập theo mô hình của Đại học Tokyo. Kể từ đó, một số đại học trong hệ thống vương triều được thành lập, như Tohoku Imperial University (1907), Kyushu Imperial University (1910). Cả hai trường mới này chuyên về khoa học ứng dụng.

Thời gian mà các đại học vương triều ra đời trùng hợp với giai đoạn cách mạng kỹ nghệ ở Nhật. Cuộc cách mạng kỹ nghệ chủ yếu xảy ra ở ngành dệt và kỹ nghệ nhẹ, và chính các ngành “nhẹ” này đã là những viên gạch lót đường để Nhật trở thành một cường quốc kỹ nghệ sau này. Các đại học vương triều có nhiệm vụ phải đào tạo các kỹ sư và khoa học gia, chuyên gia để đáp ứng nhu cầu của cuộc cách mạng kỹ nghệ.

Mặc dù ý thức được rằng đại học còn phải đào tạo các nhà nghiên cứu, nhưng trong giai đoạn mà công nghệ của Nhật còn quá thô sơ, họ chủ yếu nhắm vào việc đào tạo chuyên gia lành nghề, và việc đào tạo chuyên gia nghiên cứu chỉ tập trung ở các đại học lớn như Tokyo và Kyoto.

Song song với sự ra đời của các đại học vương triều, Nhật còn thành lập một số trường cao đẳng kỹ thuật (technical college). Các trường cao đẳng có nhiệm vụ giới thiệu các công nghệ của thế giới phương Tây nhưng có ứng dụng thực tế vào điều kiện phát triển ở Nhật. Đến năm 1910, Nhật đã có 17 trường cao đẳng kỹ thuật, và mỗi năm huấn luyện được hàng ngàn chuyên viên kỹ thuật.

Trong thời kỳ này, Nhật còn có một số đại học tư thục, tuy lúc đó các trường này chưa được công nhận là “đại học” mà chỉ là những “trường đặc biệt” (special schools). Mãi đến năm 1918 các trường đại học tư thục mới được chính thức công nhận là đại học. Sau này, một số trường tư thục đó trở thành những đại học danh tiếng. Chẳng hạn như Đại học Keio được thành lập năm 1868 (do gia đình của Fukuzawa Yukichi thành lập), Đại học Doshisa (của Niijima Jo lập năm 1875), Đại học Waseda (do Okuma Shigenobu lập năm 1882) đã có công đào tạo các chuyên gia kỹ thuật và quản lý cho các công ty tư nhân, và đóng góp một phần lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa của Nhật.

Giai đoạn 3: Hậu chiến và phát triển. Trong thời gian chiến tranh, Nhật đã làm được một điều kỳ diệu: phát triển đại học và kỹ nghệ. Cuộc chiến Nga – Nhật (1904-1905) là giai đoạn Nhật “củng cố lực lượng” để xây dựng và bành trướng thực lực quân sự. Đến thế chiến 1914-1918 thì thực lực quân sự của Nhật đã được chứng minh.

Thế chiến thứ nhất là động cơ để Nhật tiến hành một cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ hai. Trong cuộc cách mạng này, Nhật tập trung vào kỹ nghệ nặng như đóng tàu, sản xuất sắt thép, sản xuất máy kỹ nghệ, hóa học… Trong thời gian 1915-1918, sản lượng kỹ nghệ của Nhật tăng sáu lần, và lần đầu tiên, sản lượng kỹ nghệ qua mặt sản lượng nông nghiệp, biến Nhật thành một nước công nghiệp tiên tiến.

Năm 1918 đạo luật thành lập các đại học địa phương và đại học vùng ra đời. Đạo luật còn cho phép thành lập các đại học chuyên ngành như đại học chuyên về kỹ thuật, kinh tế, nông học…

Đến năm 1930, Nhật đã có bảy đại học vương triều, với ba đại học mới là Hokkaido, Osaka và Nagoya. Các đại học vương triều mới này chuyên về khoa học và công nghệ. Trong cùng thời gian này, các đại học cũ hơn như Tokyo và Kyoto bắt đầu thành lập các viện nghiên cứu trong và ngoài đại học. Phần lớn các viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu về vật lý, hóa học, công nghệ hàng không. Trong giai đoạn này, Nhật đã có một hệ thống đại học hoàn chỉnh và tạo được một nền tảng cho phát triển khoa học kỹ thuật trong tương lai.

Giai đoạn 4: Hoàn thiện. Giai đoạn phát triển thứ tư này kéo dài từ Thế chiến thứ hai cho đến nay. Trong giai đoạn đầu sau khi Nhật đầu hàng, tương lai nước Nhật nằm trong tay của lực lượng chiếm đóng, và tương lai đất nước còn khá mập mờ. Năm 1949, chính quyền chiếm đóng đề nghị một cuộc tổng cải cách giáo dục trên toàn quốc. Theo đó, tất cả các đại học – từ hệ thống đại học vương triều đến đại học địa phương và tư thục – đều phải theo một chương trình đào tạo thống nhất: đó là bốn năm cho cấp cử nhân. Đến năm 1950, Nhật đã có 201 trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu.

Đến năm 1952, khi Nhật được trao quyền tự trị, tương lai của Nhật có vẻ rõ ràng hơn. Người Nhật nhận thức rõ rằng để tồn tại trên thế giới với sự hạn chế tài nguyên thiên nhiên, Nhật tùy thuộc rất lớn vào khả năng kỹ nghệ. Để phát triển kỹ nghệ, họ cần phải phát triển hệ thống giáo dục đại học đến một tầm cao hơn. Năm 1956, một tài liệu về giáo dục cao đẳng của Anh (White Paper on Technical Education) được dịch sang tiếng Nhật, và trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng, một kim chỉ nam cho hệ thống giáo dục đại học của Nhật sau này.

Năm 1956, Cục Khoa học và Công nghệ được thành lập, và năm 1960 Hội đồng Khoa học và Công nghệ đề xuất một số chính sách để phát triển khoa học và công nghệ trong vòng 10 năm. Những đề nghị này trở thành định hướng phát triển và hoàn thiện hệ thống đại học cho đến ngày nay.

Ngày nay, Nhật có hơn 725 trường đại học và 518 trường cao đẳng. Chất lượng đào tạo đại học của Nhật được thế giới công nhận. Hiện nay, Nhật có 11 trường đại học được xếp vào hạng “top 200” trên thế giới, với Đại học Tokyo (hạng 19) và Kyoto (hạng 25). Trong thời gian 1997-2001, các nhà khoa học Nhật công bố khoảng 336,858 bài báo khoa học, chiếm 9,3% tổng số bài báo khoa học trên thế giới. Số ấn phẩm khoa học của Nhật đứng vào hàng thứ tư trên thế giới, chỉ sau Mỹ, Liên hiệp châu Âu, Anh và Đức.

Những bài học kinh nghiệm

Thứ nhất là nhờ Tây phương hóa. Một đặc điểm nổi bật nhất của hệ thống giáo dục đại học Nhật là mô hình phương Tây. Thật ra, từ thế kỷ 19, Nhật đã quyết định lấy phương Tây làm chuẩn cho giáo dục! Ngay từ đó, Nhật đã du nhập kiến thức và kỹ năng của phương Tây vào một nước có nền văn hóa phương Đông.

Ngay từ thế kỷ 19, Nhật đã không ngần ngại bỏ ra một số tiền lớn để mướn các giáo sư và chuyên gia phương Tây đến giảng dạy tại các đại học Nhật. Theo thống kê, năm 1873, Bộ Giáo dục Nhật chi đến 14% ngân sách giáo dục cho các giáo sư ngoại quốc. Có điều đáng chú ý là họ chỉ Tây phương hóa những lĩnh vực họ cần (như kỹ thuật) chứ không phải Tây phương hóa nền văn hóa cổ truyền của họ.

Thứ hai là sự phối hợp nhịp nhàng giữa giáo dục và kỹ nghệ. Trong giai đoạn đầu kỹ nghệ hóa, Nhật không có một chiến lược phát triển có hệ thống hay có kế hoạch. Tuy nhiên, chính phủ có chính sách khuyến khích giới kỹ nghệ phát triển giáo dục và khoa học.

Xuất phát từ chính sách này, nhiều trường đại học tư thục được thành lập, và cho đến nay, trong số hơn 725 đại học, có đến 565 (78%) là đại học tư thục do giới kỹ nghệ hay các tôn giáo sáng lập. Nhà nước và giới kỹ nghệ có sự phối hợp tốt để đảm bảo công ăn việc, làm cho sinh viên khi tốt nghiệp. Quá trình phát triển các đại học tư thục cũng thể hiện đóng góp quan trọng của giới kỹ nghệ trong việc nâng cao giáo dục cho quốc dân ở Nhật.

Thứ ba là tự chủ. Trong giai đoạn đầu phát triển, các đại học chịu sự chỉ đạo của chính phủ, nhưng đến giai đoạn 2 trở đi, các đại học được tự quản. Trong giai đoạn đầu, các đại học Nhật “vận hành” chủ yếu với chức năng tiếp thu và chuyển giao công nghệ của phương Tây vào môi trường kinh tế xã hội Nhật. Khi giai đoạn du nhập đã qua, các đại học trở nên tự chủ, và tự do hơn trong giảng dạy và nghiên cứu. Năm 1919, các giáo sư được quyền chọn hiệu trưởng và đồng nghiệp.

Thứ tư là chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế. Ai cũng biết người Nhật có tinh thần quốc gia rất cao. Ấy thế mà họ chẳng những chấp nhận mà còn tích cực du nhập tri thức và kỹ thuật từ phương Tây. Trong giai đoạn đầu, các đại học Nhật chủ yếu phục vụ cho quyền lợi của Nhật, như ngay cả các đại học vương triều cũng có sứ mệnh cụ thể là sáng tạo ra tri thức nhằm phục vụ quốc gia. Nhưng sau khi đã ổn định và nhận thức được rằng thế giới càng ngày càng liên đới nhau, các đại học Nhật bắt đầu vươn ra ngoài Nhật theo tinh thần chủ nghĩa quốc tế.

Ở Việt Nam, những lĩnh vực cần cải cách là:

Cải cách tổ chức. Hiện nay, theo số liệu thống kê, Việt Nam đã có 376 trường đại học; hơn 70% trong số này mới được thành lập trong năm năm qua! Nhưng tiêu chuẩn thế nào là một đại học vẫn chưa được rõ ràng mấy, hay có những quy định về tiêu chuẩn nhưng còn nặng tính hành chính chứ không khoa bảng. Có thể nói không ngoa rằng rất nhiều đại học hiện nay không phải là đại học theo chuẩn mực quốc tế. (Gần đây, chúng ta đã thấy “Đại học Phan Thiết” như thế nào). Do đó, cần phải rà soát lại và nếu cần giải tán những trường không đủ tiêu chuẩn hay sáp nhập với các trường khác.

Cải cách hệ thống lương bổng. Đại học là nơi tập trung những thành phần trí thức ưu tú và là cái nôi phát triển và nuôi dưỡng nhân tài. Nhưng điều đáng buồn ở Việt Nam ngày nay là đại học không có sức thu hút nhân tài, vì lương bổng quá thấp, không đủ nuôi sống những nhà khoa học có tài thực sự. Vì thế, cần phải ổn định một số nhỏ nhà nghiên cứu làm nghiên cứu cơ bản qua tăng lương một cách xứng đáng cho họ.

Một nhà khoa học không thể nào nghiên cứu trong khi cứ nơm nớp lo nghĩ đến miếng ăn hàng ngày. Cần phải có chính sách cụ thể khuyến khích các nhà khoa học làm nghiên cứu ứng dụng, qua đó tăng khả năng thu nhập riêng cho họ và cho trường đại học.

Giảng dạy. Trong khi các trường đại học ta đang thiếu thốn giảng viên một cách nghiêm trọng, số lượng được đào tạo trong nước chẳng là bao. Theo như một thống kê gần đây, trong vòng 30 năm qua, kể từ khi có quyết định chương trình đào tạo hậu đại học trong nước, trung bình mỗi năm cả nước chỉ đào tạo trên dưới 650 thạc sĩ và tiến sĩ, một con số rất khiêm tốn, có khi còn thấp hơn con số của một trường lớn ở các nước phương Tây.

Rõ ràng, một số lớn này phải được đào tạo từ nước ngoài. Do đó, Việt Nam cần mạnh dạn gửi học sinh và giảng viên ra nước ngoài học hậu đại học nhiều hơn nữa. Nhưng đơn thuần gửi sinh viên ra ngoài học là một phương án tương đối đắt giá.

Tôi nghĩ một phương án khác đỡ tốn kém hơn là qua đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu với các đại học nước ngoài, để qua đó tạo điều kiện cho cộng tác viên phía Việt Nam có cơ hội làm luận án và đào tạo được thêm chuyên viên nghiên cứu và giảng viên cho Việt Nam với kinh phí vừa phải.

Nghiên cứu khoa học. Một sự thật mà những ai hoạt động trong khoa học đều phải công nhận là sự hiện diện của các nhà khoa học ở trong nước trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Để nâng cao chất lượng người được đề bạt và khuyến khích nghiên cứu khoa học, tôi đề nghị tiêu chuẩn được đề bạt không nên được căn cứ hay đặt nặng vào số lượng bài báo công bố, mà nên đặt nặng vào chất lượng của những bài báo đó.

Ở Mỹ, có nhiều giáo sư thực thụ chỉ có 30 hay 40 bài báo (tất nhiên là có chất lượng, được đồng nghiệp trên thế giới ghi nhận), không cần đến con số 100 như các nước khác. Ở các nước phương Tây ngày nay, chất lượng các bài báo đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế, thường được xem là những thước đo chuẩn về khả năng làm khoa học của người giữ các chức vụ khoa bảng trong đại học hay các viện nghiên cứu. Một người mang hàm “giáo sư” mà “vô danh” trên trường quốc tế trong lĩnh vực hoạt động của mình là một điều không thể chấp nhận được.

Cơ sở vật chất. Tất cả các đại học ở Việt Nam đều quá nghèo nàn về cơ sở vật chất. Thư viện quá nhỏ và thiếu sách, tạp chí khoa học trầm trọng. Phòng thí nghiệm cũng cực kỳ khiêm tốn. Đặc biệt là hệ thống Internet quá yếu.

Ngày nay, ở các nước như Mỹ và châu Âu, nếu không có hệ thống Internet chắc có lẽ trường đại học sẽ ngưng hoạt động! Tôi đã từng hướng dẫn thành công vài du học sinh chỉ qua điện thư! Trong khi đó, số lượng học sinh, sinh viên và các nhà khoa học ở trong nước có điều kiện truy nhập vào mạng Internet còn quá ít.

Do đó, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học sinh tham gia vào cuộc cách mạng về công nghệ thông tin này cần phải được đưa lên một trong những quốc sách hàng đầu trong nền giáo dục. Tôi đề nghị Nhà nước nên dành một ngân khoản xứng đáng cho tất cả các trường đại học được nối vào một mạng chung.

Kiểm tra chất lượng. Ngay bây giờ, cần có một ủy ban có nhiệm vụ chính là nghiên cứu phương pháp giảng dạy, đề ra tiêu chuẩn đồng nhất về đào tạo (kể cả sách giáo khoa) và thẩm tra chất lượng đào tạo cho tất cả các trường đại học và cơ sở đào tạo cấp đại học hay sau đại học. Ủy ban này nên độc lập với Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng phải có đại diện của bộ, của các trường đại học, của chính quyền địa phương, các nhà doanh nhân, cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa bảng ở nước ngoài. Ở Nam Phi trong các thập niên 70 và 80, ủy ban kiểm tra chất lượng đào tạo đại học này đã rất thành công trong việc nâng cao chất lượng sinh viên của họ.

Việt kiều. Trong hầu như tất cả các ngànhh khoa học và trong nhiều đại học trên thế giới, đều có sự hiện diện của người Việt; trong số này, có nhiều người giữ chức vụ khoa học quan trọng, có khả năng khoa học kỹ thuật cao, có kinh nghiệm lâu năm trong nghiên cứu khoa học, có uy tín lớn với các cơ quan cung cấp tài chính cho nghiên cứu, và quan trọng hơn nữa, là họ có tâm huyết với nền giáo dục trong nước.

Thế nhưng cho tới nay, mặc dù có sự cộng tác cá nhân giữa vài nhà khoa học ở ngoài và các trường, viện nghiên cứu trong nước, việc huy động và sử dụng nguồn nhân lực khoa học này vẫn chưa được tiến hành một cách có hệ thống.

Bộ Giáo dục và Đào tạo nên xúc tiến một ngân hàng dữ liệu về các nhà khoa học gốc Việt đang làm việc ở nước ngoài trong các lĩnh vực khoa học. Và từ đó, có chính sách cụ thể và tích cực nhằm tạo điều kiện cho các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài có cơ hội giảng dạy, tham gia vào việc thẩm định các luận án sau đại học và nghiên cứu ở trong nước.

Ở nước ta, năm 2020 thường được đề cập đến như một cái mốc thời điểm để hoàn thành công cuộc kỹ nghệ hóa và hiện đại hóa đất nước. Thời gian 20 năm không phải là dài, nếu không muốn nói là quá ngắn, cho một mục tiêu đầy thử thách và tham vọng này.