Tờ trình của Chính Phủ về Dự án Đường Sắt Cao Tốc

LTS: Để hiểu rõ hơn nội dung dự án Đường sắt cao tốc, xin giới thiệu với bạn đọc nội dung Tờ trình của Chính phủ về Dự án trên.

Thông qua nội dung của Tờ trình trên, chúng ta có thể hiểu được phần nào những tranh luận nóng bỏng trên diễn đàn Quốc hội cũng như trên các diễn đàn thời gian qua.

Hy vọng Quý Bạn đọc sẽ có thêm một số thông tin hữu ích về nội dung này.  Bạn đọc có thể góp ý vào phần Comment ở dưới bài viết hoặc gởi thư về địa chỉ thienfed@gmail.com. TS luôn trân trọng các ý kiến chân thành, không phân biệt chính kiến.

Để dễ đọc, có thể bấm nút Full screen.

Đi tìm ý nghĩa cuộc sống

Diễn văn nhậm chức của ông Obama

Ông Barack Obama đã tuyên thệ nhậm chức để trở thành tổng thống thứ 44 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Dưới đây là toàn văn bài phát biểu của ông (bản dịch của Ban Việt ngữ BBC):

Thưa quốc dân,

Tôi đứng đây ngày hôm nay, cảm thấy thật khiêm nhường trước trách nhiệm trước mắt, biết ơn về sự tin cậy của quý vị, và nhớ về những hy sinh của tổ tiên. Tôi xin cảm ơn Tổng Thống Bush về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về sự hào phóng và tinh thần cộng tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này.

Bốn mươi tư công dân Mỹ đã tuyên thệ nhận chức tổng thống. Những từ ngữ được vang lên trong những thời thịnh vượng và thời bình. Và những lời tuyên thệ cũng thường vang lên trong lúc dông bão. Vào những thời khắc đó, nước Mỹ đã vượt qua, không chỉ đơn giản nhờ vào kỹ năng hay tầm nhìn của những người lãnh đạo, mà bởi Chúng Ta, Nhân Dân Mỹ đã có niềm tin vào lý tưởng của cha ông, theo đúng tinh thần của các văn bản lập quốc của chúng ta.

Niềm tin đó đúng trong quá khứ. Niềm tin đó phải đồng hành với thế hệ người Mỹ hiện nay.

Các thách thức nghiêm trọng

Chúng ta hiện đang trong giữa cuộc khủng hoảng mà ai ai cũng biết. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống lại một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp. Nền kinh tế của chúng ta đang bị suy yếu nghiêm trọng, một phần là hậu quả của thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu quả của việc chúng ta đã thất bại, không có những lựa chọn khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nhà mất, việc không, kinh doanh đình đốn. Chi phí y tế thì quá tốn kém; chất lượng trường học khiến nhiều người thất vọng. Càng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng ta mạnh thêm trong lúc trái đất càng bị đe doạ thêm.

Đó là các chỉ dấu về cuộc khủng hoảng, tính theo dữ liệu và số liệu thống kê. Không đo đếm được cụ thể đến vậy, nhưng cũng không kém phần sâu sắc, đó là tâm trạng mất niềm tin trên toàn đất nước – một tâm trạng sợ hãi đeo đẳng rằng sự đi xuống của nước Mỹ là không thể tránh khỏi, và rằng thế hệ kế tiếp sẽ phải hạ bớt tầm nhìn.

Hôm nay, tôi xin nói với quý vị rằng các thách thức mà chúng ta đang đối diện là rất thật. Các thách thức đó rất nghiêm trọng và có nhiều. Các thách thức đó không thể xử lý được một cách dễ dàng hay trong một thời gian ngắn. Nhưng xin quý vị hãy biết rằng chúng sẽ được xử lý.

Ngày hôm nay, chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, cùng hướng tới một mục tiêu chung thay vì có xung đột và bất hòa.

Ngày hôm nay, chúng ta tới để tuyên bố chấm dứt những lời than vãn vụn vặt cùng những lời hứa hẹn dối trá, những lời tố cáo lẫn nhau cùng những lời nói giáo điều nhàm chán, những thứ đã bóp nghẹt nền chính trị của chúng ta quá nhiều.

Quốc gia dám chấp nhận rủi ro

Chúng ta vẫn là một quốc gia non trẻ, nhưng như kinh thánh nói, đã tới lúc bỏ sang một bên những điều nông nổi. Đã đến lúc tái xác nhận tinh thần kiên nhẫn của chúng ta, nhằm chọn lựa một lịch sử tốt đẹp hơn, nhằm hướng tới món quà quý giá, ý tưởng cao đẹp vốn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: Chúa trao cho mọi người quyền được bình đẳng, quyền được tự do, mọi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc.

Trong khi tái khẳng định sự vĩ đại của dân tộc chúng ta, chúng ta hiểu rằng sự vĩ đại đó không bao giờ là thứ được cho không. Chúng ta đã phải giành lấy nó. Hành trình của chúng ta đi cho tới nay chưa bao giờ là một trong những con đường đi tắt hoặc một cái gì đó dễ dàng hơn. Đó không phải là con đường cho những người nhút nhát, cho những người hay ưa thích sự nhàn tản hơn là lao động, hay cho những người chỉ tìm kiếm những thú vui của sự giàu sang và nổi tiếng. Thay vào đó, chính những người dám chấp nhận hiểm nguy, những người lao động, những người làm ra các sản vật – mà một vài trong số họ là những người nổi tiếng nhưng thông thường hơn là những người đàn ông và đàn bà vô danh trong những lao động của họ – là những người đã đưa chúng ta vượt qua con đường dài đầy khó khăn gập ghềnh và dẫn chúng ta tới sự thịnh vượng và tự do.

Vì chúng ta, họ đã phải bươn chải khắp các đại dương mà trong tay chỉ có chút ít tư trang, của cải để mưu cầu một cuộc đời mới.

Vì chúng ta, họ đã phải vất vả lao động ở những công xưởng hà khắc và phải cất công định cư ở miền Tây; đã phải chịu đựng những trận đòn roi da và cấy cầy trên nền đất cứng.

Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg, Normandy và Khe Sanh.

Dấu ấn Mỹ

Hết lần này đến lần khác, những người đàn ông và đàn bà này đã tranh đấu, hy sinh và làm việc tới tận khi đôi bàn tay của họ trai sạm để chúng ta có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn, Họ đã nhìn thấy nước Mỹ lớn hơn tất cả những tham vọng cá nhân, lớn hơn tất cả những khác biệt về sự sinh thành, của cải và phe phái của chúng ta gộp lại.

Đây là hành trình chúng ta tiếp tục ngày hôm nay. Chúng ta vẫn là quốc gia thịnh vượng nhất, mạnh nhất trên trái đất. Các công nhân của chúng ta không hề làm việc kém hiệu quả hơn thời điểm cuộc khủng hoảng này bắt đầu. Trí óc của chúng ta không hề kém sáng tạo, hàng hoá và dịch vụ của chúng ta không hề kém cần thiết hơn tuần trước, tháng trước hay năm ngoái. Năng lực của chúng ta vẫn không hề bị sút giảm. Nhưng thời của sự bảo vệ những lợi ích hẹp hòi và lảng tránh những quyết định không mấy thú vị của chúng ta – thời đó chắc chắn đã trôi qua.

Bắt đầu ngày hôm nay, chúng ta phải tự mình đứng dậy, tự phủi bụi và bắt đầu trở lại công việc tái lập nước Mỹ. Bởi vì ở bất cứ nơi đâu chúng ta nhìn vào, chúng ta sẽ thấy có việc phải làm. Tình trạng kinh tế hiện nay đang kêu gọi chúng ta hành động, can đảm và mau lẹ, và chúng ta sẽ hành động – không chỉ để tạo ra những việc làm mới, mà còn để đặt một nền móng mới cho sự tăng trưởng. Chúng ta sẽ xây dựng cầu, đường, các lưới điện và đường dây kỹ thuật số để cung cấp cho thương mại và kết nối chúng ta lại với nhau. Chúng ta sẽ khôi phục khoa học ở vị trí đúng đắn của nó, sẽ sử dụng các điều kỳ diệu của công nghệ để nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và hạ giá thành của nó. Chúng ta sẽ khai thác năng lượng từ mặt trời, từ gió và đất để cung cấp nhiên liệu cho xe hơi và vận hành các nhà máy của chúng ta. Và chúng ta sẽ chuyển các trường học, trường học phổ thông và đại học để đáp ứng các nhu cầu của một thời đại mới. Tất cả điều này chúng ta có thể làm. Tất cả những điều này, chúng ta sẽ làm.

Khôi phục niềm tin

Vào lúc này, đang có những người đặt ra các câu hỏi trước các tham vọng của chúng ta – những người này cho rằng hệ thống của chúng ta không thể kham nổi quá nhiều các kế hoạch. Trí nhớ của họ quá ngắn. Bởi vì họ đã quên rằng đất nước này đã làm được điều đó; điều mà những con người tự do, nam cũng như nữ, có thể đạt được khi trí tưởng tượng của mọi người được hòa trong một mục đích chung, điều cần thiết cho sự can đảm.

Điều mà những người hoài nghi không thể hiểu là mặt đất đang chuyển dịch dưới chân họ – là những luận điểm chính trị cũ kỹ vốn làm héo mòn chúng ta lâu nay, không còn có thể áp dụng được nữa. Câu hỏi chúng ta đặt ra hôm nay không phải là liệu chính phủ của chúng ta quá lớn hay quá nhỏ, nhưng mà là liệu nó có vận hành được hay không – liệu nó có thể giúp cho các gia đình tìm kiếm được việc làm với một đồng lương tử tế, một sự chăm sóc y tế mà họ có thể chi trả được hay tìm kiếm được một hưu bổng xứng đáng. Ở đâu mà câu trả lời là được, chúng ta dự kiến sẽ tiến tới. Ở đâu mà câu trả lời là không, các chương trình sẽ dừng lại.

Và ai trong số chúng ta đang quản lý những đồng đô-la công cộng sẽ phải thận trọng tính toán – để chi tiêu một cách khôn ngoan, phải thay đổi những thói quen xấu và phải làm công việc của chúng ta dưới thanh thiên bạch nhật – vì chỉ khi đó chúng ta mới có thể khôi phục được lòng tin hết sức quan trọng giữa người dân và chính phủ của họ.

Cũng không phải đó là câu hỏi đặt ra trước chúng ta rằng liệu thị trường là một lực lượng lành mạnh hay không. Sức mạnh của thị trường nhằm sản xuất ra của cải và mở rộng tự do là không gì sánh nổi, nhưng cuộc khủng hoảng này nhắc nhở chúng ta rằng nếu không có một con mắt thận trọng, thị trường có thể xoay chuyển và đi ra khỏi vòng kiểm soát – một quốc gia không thể thịnh vượng lâu dài khi nó chỉ tạo thuận lợi cho những người giàu có. Thành công của nền kinh tế của chúng ta đã luôn luôn dựa trên không chỉ quy mô của tổng sản phẩm quốc nội của chúng ta, mà còn dựa trên tầm vóc của sự thịnh vượng của chúng ta; dựa trên khả năng mở rộng cơ hội cho tất cả những người thiện ý, sẵn lòng – không xuất phát từ lòng từ thiện ban phát, mà còn bởi vì đó là con đường chắc chắn nhất đưa tới lợi ích chung của chúng ta.

Sẵn sàng dẫn dắt

Đối với công cuộc quốc phòng, chúng ta bác bỏ sự lựa chọn giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta. Những bậc cha ông khai quốc của chúng ta, vốn đã từng phải đương đầu với những hiểm nguy mà chúng ta hiếm khi có thể hình dung được, đã soạn thảo ra một bản hiến chương đảm bảo pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ. Những lý tưởng này vẫn tiếp tục thắp sáng trên thế giới, và chúng ta sẽ không từ bỏ chúng vì những điều không thích hợp.

Và do đó đối với tất cả các dân tộc và chính phủ khác đang theo dõi chúng ta hôm nay, từ các thủ đô lớn nhất tới ngôi làng nhỏ nơi cha tôi ra đời: quý vị biết rằng nước Mỹ là bạn bè với từng quốc gia, từng cá nhân dù là nam hay nữ, từng đứa trẻ, đang tìm kiếm tương lai hoà bình và phẩm giá, và chúng ta sẵn sàng để đi đầu một lần nữa.

Hãy nhớ rằng thế hệ cha anh chúng ta đã hạ gục chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản, không chỉ bằng tên lửa và xe tăng mà bằng những liên minh vững chắc và bằng niềm tin bền bỉ. Lớp cha anh hiểu rằng chỉ sức mạnh không thôi sẽ không thể bảo vệ nổi chúng ta, và nó cũng không cho phép chúng ta làm những gì mình muốn. Các thế hệ trước hiểu rằng sức mạnh của chúng ta lớn mạnh dần là nhờ chúng ta đã sử dụng nó một cách cẩn trọng. Nền an ninh của chúng ta được xây dựng từ sự chính danh, từ sự gương mẫu, từ sự khiêm nhường và sự biết kiềm chế của chúng ta.

Chúng ta là những người gìn giữ di sản này. Được dẫn dắt bởi những nguyên tắc cơ bản này, một lần nữa chúng ta sẽ đương đầu được với các đe doạ mới, là các đe doạ cần được đối phó bằng những nỗ lực to lớn hơn – thậm chí là cả sự hợp tác to lớn hơn cùng và sự thông hiểu hơn giữa các quốc gia. Chúng ta sẽ bắt đầu chuyển giao một cách có trách nhiệm đất nước Iraq cho người dân Iraq, và sẽ vượt lên giành giật hòa bình vốn khó giữ tại Afghanistan. Cùng với bạn cũ thù xưa, chúng ta sẽ làm việc không ngừng nhằm giảm bớt đe dọa hạt nhân và đảo ngược tiến trình ấm nóng toàn cầu. Chúng ta sẽ không xin lỗi vì cách sống của chúng ta và không do dự khi bảo vệ lối sống này. Đối với những kẻ muốn đạt mục tiêu bằng cách khủng bố và giết người vô tội, thì các người hãy nghe đây: tinh thần của chúng ta mạnh hơn của các người, các người không thể bẻ gãy ý chí của chúng ta, các người không thể tồn tại lâu chúng ta, và chúng ta sẽ đánh bại các người.

Kỷ nguyên hoà bình

Chúng ta biết rằng di sản của chúng ta là sức mạnh chứ không phải là sự yếu đuối. Chúng ta là một quốc gia của người Thiên Chúa Giáo và người Hồi Giáo, người Do Thái giáo và người Ấn giáo, và của cả những người không tôn giáo. Chúng ta được hình thành bởi các ngôn ngữ và văn hóa hội về từ khắp nơi trên trái đất. Từng đã trải qua vị đắng của nội chiến và tệ phân biệt màu da, từng trỗi dậy từ thời kỳ đen tối đó để trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn, chúng ta tin rằng rồi sẽ đến ngày nỗi thù nghịch cũng qua đi, làn phân ranh giữa các bộ tộc sẽ không còn; khi thế giới này trở nên nhỏ bé hơn, lòng nhân hậu sẽ ngự trị và Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò mở ra một kỷ nguyên mới, hoà bình.

Đối với thế giới Hồi giáo, chúng ta tìm hướng đi tới mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau. Đối với các nhà lãnh đạo đang muốn gieo rắc xung đột hay đổ lỗi cho phương Tây gây ra những tệ nạn trong xã hội của họ – quý vị hãy hiểu rằng người dân sẽ đánh giá dựa trên những gì quý vị xây chứ không phải những gì quý vị phá. Đối với những người bám lấy quyền lực nhờ tham nhũng, dối trá và bịt miệng tiếng nói đối lập, hãy biết rằng quý vị đang đi ngược lịch sử, nhưng chúng tôi sẽ chìa tay ra nếu quý vị biết từ bỏ nắm đấm.

Đối với các quốc gia nghèo khó, chúng tôi cam kết sẽ sánh vai cùng quý vị để giúp các trang trại xanh tươi, để dòng nước sạch được tuôn trào, để nuôi dưỡng những sinh linh đói khát. Và đối với những quốc gia được hưởng sự đầy đủ như chúng ta, chúng ta nói với họ rằng chúng ta không thể tiếp tục thờ ơ với những nỗi thống khổ phía bên ngoài biên giới, cũng không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên thế giới mà không quan tâm gì tới những ảnh hưởng kéo theo. Thế giới đã thay đổi và chúng ta phải thay đổi theo.

‘Nghĩa vụ’

Khi chúng ta cân nhắc con đường phía trước, chúng ta tưởng nhớ với lòng biết ơn khiêm nhường trước những người Mỹ dũng cảm, vào chính lúc này đây, đang tuần tra các sa mạc, rặng núi xa xôi. Họ có cái để nói với chúng ta, giống như những anh hùng gục ngã tại Arlington đã thì thầm từ bao thời đại. Chúng ta vinh danh họ không chỉ vì họ là những người bảo vệ tự do của chúng ta, mà còn vì họ hiện thân cho tinh thần phục vụ; sẵn sàng tìm ý nghĩa trong những điều lớn hơn bản thân họ. Và chính trong khoảnh khắc này – một khoảnh khắc sẽ định hình cả một thế hệ, chính tinh thần này phải hiện hữu trong tất cả chúng ta.

Vì cho dù chính phủ có thể làm gì và phải làm gì, quốc gia này chung cuộc là nhờ vào niềm tin và quyết tâm của nhân dân Mỹ. Đó là sự tử tế đùm bọc người xa lạ khi những con đê bị vỡ, là sự vị tha của những công nhân thà làm bớt giờ chứ không để bạn mình mất việc, chính chúng sẽ đưa ta qua những giờ đen tối nhất. Chính là sự dũng cảm của nhân viên chữa cháy băng qua cầu thang đầy khói, chính là bậc cha mẹ sẵn lòng chăm sóc con, mà quyết định số phận của chúng ta.

Các thách thức của chúng ta có thể là mới mẻ. Các công cụ mà chúng ta dùng để đối phó có thể là mới mẻ. Nhưng các giá trị đã dẫn đến thành công của chúng ta – sự trung thực và chăm chỉ, dũng cảm và công bằng, khoan dung và tò mò, trung thành và lòng yêu nước – những điều này là cũ. Những điều này là có thật. Chúng đã là lực đẩy âm thầm cho tiến bộ xuyên suốt lịch sử của chúng ta. Điều đang đòi hỏi chúng ta là quay về với những sự thật đó.

Điều đòi hỏi chúng ta lúc này đây là một kỷ nguyên mới của trách nhiệm, một sự thừa nhận của từng người Mỹ rằng chúng ta có nghĩa vụ với chính bản thân, quốc gia, và thế giới; những nghĩa vụ mà chúng ta không phải miễn cưỡng chấp nhận mà sẵn sàng nắm lấy, với hiểu biết chắc chắn rằng không có điều gì làm tinh thần thỏa mãn, phản ảnh tư cách của chúng ta cho bằng cống hiến trọn vẹn cho một sự nghiệp khó khăn.

‘Món quà của tự do’

Đây là giá và sự hứa hẹn của quyền công dân.

Đây là nguồn gốc của niềm tự tin, sự hiểu biết rằng Thượng Đế trông cậy vào chúng ta để định hình một định mệnh chưa chắc chắn.

Đây là ý nghĩa của tự do và tôn giáo của chúng ta – là vì sao mọi người, nam, nữ, trẻ em thuộc mọi chủng tộc và tín ngưỡng có thể cùng nhau chào đón tại quảng trường quốc gia vĩ đại này và vì sao một người có cha cách đây gần 60 năm có thể không được phục vụ tại một nhà hàng địa phương mà nay đứng trước mặt quý vị để đọc lời thề thiêng liêng nhất.

Vậy chúng ta hãy đánh dấu ngày này bằng cách nhớ lại chúng ta là ai và chúng ta đã đi xa thế nào.

Vào năm Hoa Kỳ ra đời, trong những tháng lạnh nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước chụm lại bên nhau bên cạnh đống lửa gần tàn trên bờ dòng sông băng giá. Thủ đô đã bị bỏ lại. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết loang lỗ vết máu. Vào thời điểm khi kết quả cuộc cách mạng rơi vào hồ nghi, vị cha già của quốc gia ra lệnh đọc cho mọi người những lời này:

“Hãy nói cho thế giới tương lai… rằng trong mùa đông giá lạnh nhất, khi chỉ còn lại hy vọng và nghị lực… thì thành phố và đất nước, lo lắng trước mối nguy hiểm chung, đã tiến lên để đối đầu.”

Nước Mỹ ơi. Giữa những nguy hiểm chung, trong mùa đông gian khó của chúng ta, hãy nhớ những lời bất tử này. Với hy vọng và nghị lực, chúng ta hãy một lần nữa can đảm vượt qua dòng nước băng giá và chịu đựng bất cứ cơn bão nào sẽ đến. Hãy để con cháu chúng ta nhắc lại rằng khi chúng ta bị thử thách, chúng ta đã chối từ không để cuộc hành trình phải ngừng lại, rằng chúng ta không quay lui hay ngập ngừng, và với con mắt chăm chú nhìn vào chân trời và với ân phước của Thượng Đế ban cho, chúng ta mang theo món quà của tự do và chuyền lại bình an cho các thế hệ sau.

Cảm ơn quý vị. Thượng đế ban phước lành cho quý vị. Và Thượng đế ban phước lành cho nước Mỹ.

Mỹ tìm lại sự cân bằng

Phi Tuấn

(TBKTSG) – Nước Mỹ đang chứng kiến một sự đổi thay lớn lao chưa từng có: thoát ra khỏi tiêu thụ và nợ nần để hướng đến xuất khẩu và tiết kiệm – một sự thay đổi chắc chắn sẽ tác động đến các nền kinh tế khác ở những cấp độ khác nhau.

Chủ một công ty bất động sản ở Mỹ, ông Steve Hilton, nhớ lại những tháng ngày thất vọng sau vụ sụp đổ của Ngân hàng Lehman Brothers năm 2008. Khách hàng hối hả tới các văn phòng kinh doanh của Meritage Homes do Hilton quản lý, không phải để mua nhà mà để hủy các hợp đồng họ đã ký trước đó.

Những tháng ngày sau đó, Hilton tìm mọi cách để cứu nguy cho công ty bằng cách từ bỏ ý định mua hàng ngàn lô đất ở khắp các tiểu bang từ Arizona, đến Florida, Nevada và California trong thời kỳ bùng nổ bất động sản, chịu thua lỗ nặng nề. Công ty cắt giảm ba phần tư trong tổng số 2.300 nhân viên, thuê người thiết kế lại các ngôi nhà để giảm chi phí xây dựng, loại bỏ các chi tiết xa xỉ. Hiện thời Meritage Homes chỉ phục vụ những khách hàng có khả năng là những người mua nhà lần đầu được chính phủ bảo lãnh.

Nghèo hơn

Cả nước Mỹ cũng đang lâm vào tình trạng tương tự. Hầu như trong hai năm qua các ngành công nghiệp đều phải cắt giảm nhân công, trong đó các ngành dịch vụ bị thiệt hại nặng nhất. Số việc làm trong ngành xây dựng nhà ở và sản xuất xe hơi bị giảm khoảng một phần ba, trong lĩnh vực bán lẻ và ngân hàng giảm khoảng 8%.

Hiện thời, kinh tế đã hồi phục trở lại nhưng thời kỳ vay mượn dễ dàng và xăng dầu giá rẻ đã không còn nữa. Sự thay đổi kinh tế vĩ mô của Mỹ từ nợ nần và tiêu thụ sang dành dụm và xuất khẩu sẽ mang lại những thay đổi về kinh tế vi mô: lối sống khác hơn, và nghề nghiệp đa dạng hơn.

Khủng hoảng và sau đó là suy thoái đã đặt dấu chấm hết đột ngột cho một mô hình kinh tế cũ. Giá nhà đất đã mất đi 29% và giá cổ phiếu cũng giảm tương tự so với thời đỉnh cao. Từ năm 2007 đến nay, tài sản của người dân Mỹ đã giảm mất 12.000 tỉ đô la, tức 18%, buộc họ phải cân nhắc kỹ hơn mỗi khi chi tiêu và ngân hàng cũng phải thắt chặt các tiêu chuẩn cho vay.

Nợ vay tiêu dùng tăng từ mức trung bình chưa đầy 80% thu nhập sau thuế 20 năm trước lên đến 129% trong năm 2007. Theo tính toán của McKinsey Global, giới tiêu dùng Mỹ phải mất sáu hay bảy năm trả nợ thì mới giảm được tỷ lệ nợ xuống mức kiểm soát được. Điều này đã thực sự thay đổi cấu trúc của hoạt động kinh tế. Chi tiêu tiêu dùng và nhà cửa tăng từ 70% GDP năm 1991 đến 76% năm 2005 (xem bảng 1), đến cuối năm ngoái thì tỷ lệ này đã giảm xuống còn 73%, song vẫn cao so với các tiêu chuẩn quốc tế. Hiện thời có rất ít người mua nhà, người mua chọn những ngôi nhà nhỏ hơn, kém tiện nghi hơn; ngay cả số thẻ tín dụng lưu hành trên thị trường cũng đã giảm 20% so với trước khủng hoảng.

Phục hồi chậm

Đợt suy thoái đặc biệt này được kích hoạt từ cuộc khủng hoảng tài chính, hủy hoại khả năng của hệ thống tài chính trong việc chuyển các khoản tiết kiệm sang đầu tư sản xuất và khiến cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp phải chật vật đối phó với sự thừa mứa về nhà cửa, trang thiết bị và nợ nần dồn lại trong thời kỳ kinh tế bùng nổ. Sự phục hồi sau khủng hoảng vì vậy diễn ra chậm và yếu, và thực sự trong khoảng chín tháng hồi phục, mức tăng GDP hàng năm chưa đến 4%; thất nghiệp gia tăng khắp cả nước dù đã có giảm một ít hồi tháng 2.

Vậy nếu Mỹ muốn tránh sự trì trệ như nước Nhật gặp phải sau khi bong bóng bị vỡ, thì nhu cầu sắp tới sẽ đến từ đâu? Về ngắn hạn chính phủ liên bang phải tăng cường vay mượn – tới 10% của GDP năm nay – để ứng phó với sự sụt giảm về tiêu dùng cá nhân và đầu tư. Tổng thống Barack Obama muốn thâm hụt ngân sách phải giảm xuống chỉ còn khoảng 3% GDP vào giữa thập niên này, dù chưa biết điều đó sẽ được thực hiện như thế nào.

Lối sống thay đổi

Tín dụng thắt chặt hơn, vay tiêu dùng ít hơn không phải là động lực duy nhất của tái cấu trúc kinh tế. Một lực đẩy ít nhận thấy hơn, nhưng quan trọng, là giá nhiên liệu cao. Một đồng đô la mạnh cùng nguồn cung dồi dào đã giữ cho giá dầu được rẻ trong suốt thập niên 1990 khiến người Mỹ có thói quen nhập khẩu. Điều này đã bắt đầu thay đổi trước cuộc khủng hoảng một vài năm khi đô la Mỹ bị yếu và nhu cầu nhiên liệu của các thị trường mới nổi gây áp lực lên khả năng sản xuất toàn cầu.

Giá dầu tăng đến gấp 4 lần kể từ thập niên 1990 đã khiến cả giới tiêu dùng lẫn nhà sản xuất giật mình, các loại xe hơi thể thao bị chê, các chính sách bảo tồn thiên nhiên và năng lượng tái tạo được thúc đẩy và nhập khẩu hàng hóa đã giảm 10% từ năm 2006 và có khả năng còn giảm sâu hơn nữa.

Địa lý kinh tế của nước Mỹ cũng thay đổi. Giá xăng rẻ cùng nguồn tín dụng dồi dào đã kích thích hàng triệu người Mỹ tìm đến các tiểu bang miền Nam và các vùng ngoại ô hẻo lánh để săn lùng các ngôi nhà lớn. Khủng hoảng đã buộc chặt họ vào những ngôi nhà không bán lại được trong khi các ngành công nghiệp dựa trên tri thức chọn các khu trung tâm có cơ sở hạ tầng tốt và kỹ năng chuyên môn cao hơn.

Xuất khẩu – con đường cứu rỗi

Khi người tiêu dùng thắt lưng buộc bụng thì các công ty Mỹ phải tăng cường tìm kiếm doanh thu từ nước ngoài. Nhưng các quốc gia có nhân công giá rẻ, chủ yếu là Trung Quốc, đã chiếm lĩnh thị trường của các ngành công nghiệp nội địa như đồ gỗ, may mặc hay điện tử gia dụng. Nhưng sự thay đổi mô hình tăng trưởng toàn cầu và đồng đô la đang đặt cơ sở cho một sự bùng nổ về xuất khẩu của Mỹ. Bruce Kasman, chuyên gia kinh tế trưởng của JPMorgan Chase, tính toán rằng năm nay Mỹ sẽ chỉ chiếm 27% tiêu thụ của toàn cầu so với mức 34% của các thị trường mới nổi, một sự đảo chiều so với tám năm trước.

Đồng đô la yếu sẽ làm hồi sinh một số ngành công nghiệp nhưng kẻ hưởng lợi chính sẽ là các công ty xuất khẩu lớn, phản ánh sức mạnh của Mỹ trong các dịch vụ kỹ thuật cao và các ngành sản xuất đòi hỏi kỹ năng lành nghề như thiết bị y tế, dược phẩm, phần mềm và kỹ thuật, và các dịch vụ sáng tạo như phim ảnh, kiến trúc và quảng cáo.

Xuất khẩu là con đường đi tới khôi phục sau khủng hoảng. Thụy Điển và Phần Lan đầu thập niên 1990, Thái Lan, Malaysia và Hàn Quốc cuối thập niên 1990 đều hồi phục từ suy thoái bằng cách chuyển từ thâm hụt sang thặng dư. Thế nhưng với quy mô và tình trạng ốm yếu của hầu hết các nền kinh tế của các nước giàu, Mỹ thấy con đường này khó khăn hơn. Mỹ đã xuất khẩu tới các thị trường mới nổi nhiều hơn là các thị trường truyền thống, nhưng nếu các quốc gia khác, chẳng hạn như Trung Quốc, không thúc đẩy nhu cầu nội địa đủ mạnh, thì “việc tháo gỡ thế mất cân đối toàn cầu có thể đảo chiều một cách nhanh chóng trong năm 2010,” theo một tài liệu của IMF.

Thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ đã giảm từ 6% GDP năm 2006 còn 3% năm ngoái (xem bảng 2). Liệu con số này có giảm xuống 0% hay không? Mức này đã gần đạt được vào năm 1991, sau năm năm bùng nổ xuất khẩu. Lần này thâm hụt lớn hơn nhưng dù sao ổn định ở mức 3% đã là một tín hiệu vui bởi vì sẽ làm giảm tăng trưởng nợ của Mỹ với nước ngoài.

Sự mất cân đối của nền kinh tế Mỹ đã hình thành từ nhiều năm và sẽ không thể giải quyết một sớm một chiều, nhưng các yếu tố của một nền kinh tế đang lấy lại sự cân bằng đã bắt đầu hình thành. Khi ông Hilton thấy doanh số bán hàng của mình teo tóp lại thì Brian Krzanich, trưởng bộ phận sản xuất toàn cầu của hãng Intel, đang hoàn tất bản kế hoạch đầu tư 3 tỉ đô la Mỹ để cải tạo các nhà máy bán dẫn của Intel ở gần đó. Ông Krzanich biết rõ rằng suy thoái đang diễn ra; doanh số của Intel giảm và phải cắt giảm 3% nhân sự tại các nhà máy. Nhưng ông cũng biết rằng một khi nhu cầu trên thế giới hồi phục, Intel sẽ phải sản xuất một thế hệ mới các con chip hiệu quả hơn, nhỏ hơn và rẻ hơn. Quí 4-2009, Intel đã đạt lợi nhuận kỷ lục nhờ sự hồi sinh nhu cầu công nghệ.

(Theo Economist)

Hiến Pháp Trị

Greg Russell

“Tự do của con người trong một chế độ cai trị có nghĩa là sống theo một luật lệ bền vững, chung cho cả mọi người trong xã hội; luật lệ này phải được quy định bởi quyền lập pháp đã được thiết lập trong chế độ đó”

 

John Locke Second Treatise, Ch. 4

[Luận thuyết về Chính quyền Dân sự, Tập 2, Chương 4]

Hiến pháp trị hay pháp trị có nghĩa là quyền lực của các người lãnh đạo và của các cơ quan chính quyền phải được hạn chế. Hiến pháp trị, như một chủ thuyết về chính trị hay về luật pháp, nói về một chính quyền mà nhiệm vụ trước hết là phải nhằm phục vụ cho toàn thể mọi người và bảo vệ quyền cá nhân. Chế độ cai trị theo hiến pháp dựa theo các tư tưởng chính trị tiến bộ, xuất phát từ tây Âu và Mỹ nhằm bảo vệ quyền sống và quyền tư hữu của cá nhân cũng như là quyền tự do tín ngưỡng và tự do ngôn luận. Để bảo đảm các quyền đó các nhà soạn thảo hiến pháp đã nhấn mạnh các yếu tố như kiểm soát quyền hạn của các ngành trong chính quyền, bình đẳng trước pháp luật, tòa án không thiên vị và tách rời quyền lực tôn giáo và quyền lực nhà nước. Những người tiêu biểu cho môn phái này gồm thi sĩ John Milton[1], các nhà luật học Edward Coke[2] và William Blackstone[3], các chính khách như Thomas Jefferson[4] và James Madison[5], và các triết gia như Thomas Hobbes[6], John Locke[7], Adam Smith[8], Baron de Montesquieu[9], John Stuart Mill[10], và Isaiah Berlin[11].

Các vấn đề trong việc cai trị theo hiến pháp của thế kỷ 21 có lẽ sẽ là các vấn đề hiện hữu ngay trong các chính quyền được coi là dân chủ. Hiện nay có hiện tượng là các “chế độ dân chủ phi tự do”[12] càng ngày càng được coi là hợp pháp và do đó càng ngày càng mạnh hơn; lý do là vì các chế độ đó có vẻ như khá dân chủ. Chế độ dân chủ phi tự do — nghĩa là chế độ dân chủ trên danh nghĩa nhưng lại thiếu phần chủ nghĩa tự do theo hiến pháp — là một chế độ không những thiếu sót mà lại còn nguy hiểm bởi vì nó sẽ dẫn tới sự băng hoại quyền tự do, lạm dụng quyền hành, chia rẽ chủng tộc thậm chí có thể gây ra chiến tranh nữa. Sự quảng bá dân chủ trên thế giới thường không đi đôi với sự quảng bá của chế độ tự do theo hiến pháp. Một số các nhà lãnh đạo được bầu lên theo thể thức dân chủ đã dùng quyền lực của mình để giới hạn các quyền tự do.

Ngoài việc có bầu cử công bằng và tự do hay gia tăng cơ hội phát biểu về chính trị, một truyền thống sinh hoạt tự do chính trị thực sự còn phải cống hiến những yếu tố khác nữa. Chế độ dân chủ tự do còn phải đặt nền tảng pháp lý cho việc phân chia quyền hành để gìn giữ quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng và quyền tự do sở hữu tài sản.

Hiến pháp trị: nền tảng lịch sử

Các lý thuyết chính trị tiến bộ hiện đại đã thể hiện trên thực tế qua quá trình đấu tranh cho một thể chế hiến pháp trị. Thắng lợi sớm nhất, và có lẽ cũng là lớn nhất, là thắng lợi đạt được tại Anh. Giai cấp thương nhân ngày càng lớn mạnh, trước kia ủng hộ chế độ quân chủ Tudor 13 trong thế kỷ thứ 16, đã lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng trong thế kỷ 17 và thiết lập được quyền tối cao của Quốc hội và sau đó là quyền tối cao của Hạ nghị viện. Đặc điểm của chế độ hiến pháp trị hiện đại, xuất phát từ cuộc đấu tranh đó, không phải là việc đòi hỏi nhà vua cũng phải tuân theo luật pháp. Tuy quan niệm này là một đặc tính cốt yếu của chế độ hiến pháp trị nhưng thực ra nó đã được hình thành rõ rệt từ thời Trung cổ. Điểm độc đáo [của chế độ này] là việc thành lập các phương tiện kiểm soát chính trị hữu hiệu để thi hành chế độ pháp trị. Chế độ hiến pháp trị hiện đại được khai sinh với đòi hỏi là đại diện chính quyền phải lệ thuộc vào sự tán trợ của nhân dân.

Hơn thế nữa, chế độ hiến pháp trị hiện đại lại liên quan mật thiết với kinh tế và thế lực của nguồn tài chánh, tức là những người đóng thuế để nuôi chính quyền phải được đại diện trong chính quyền đó. Nguyên tắc nguồn cung cấp kinh tế phải gắn liền với việc sửa sai các điều khiếu nại là điều cốt yếu trong chế độ hiến pháp trị hiện đại. Sự suy giảm nguồn thu của nhà vua trong chế độ phong kiến, sự lớn mạnh của các định chế đại diện cho dân và sự gia tăng tinh thần đoàn kết dân tộc — thay vì là sự thần phục có tính cách tượng trưng đối với nhà vua và triều đình — đã khiến cho việc giới hạn quyền hành của vua trở thành hiện thực và hữu hiệu.

Tuy nhiên, như ta có thể thấy qua các điều khoản của Đạo luật về Dân Quyền năm 1689 [Bill of Rights, 1689], cuộc cách mạng ở Anh đã được diễn ra không phải chỉ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản (theo nghĩa hẹp) nhưng để thành lập các quyền tự do mà các người tiến bộ cho là có giá trị tinh thần thiết yếu cho phẩm cách của con người. “Các quyền con người” kể ra trong Đạo luật về Quyền của nước Anh dần dần được ban bố ra ngoài biên giới của nước Anh, nhất là trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 [American Declaration of Independence 1776] và trong Tuyên ngôn Nhân quyền của Pháp năm 1789 [Declaration of the Rights of Man, 1789]. Thế kỷ 18 chứng kiến sự xuất hiện của chế độ hiến pháp trị tại Mỹ và Pháp; và tới thế kỷ 19 thì chế độ này lan ra tới các nước Đức, Ý và các nước Tây phương khác với những mức độ thành công khác nhau.

Chế độ Hiến pháp trị và di sản của các bậc khai quốc Hoa kỳ

Trật tự theo hiến pháp của xã hội Mỹ đặt cơ sở trên sự tán trợ của mọi người có lương tri nam cũng như nữ; sự thỏa thuận này được biểu hiệu bằng một “khế ước xã hội” ấn định việc ủy thác để thực hiện một số mục đích giới hạn. Các lý thuyết về “khế ước xã hội” được thịnh hành nhiều nhất vào thế kỷ 17 và 18 tại Âu châu, và thường được gắn liền với các triết gia người Anh như Thomas Hobbes và John Locke, và triết gia Pháp Jean Jacques Rousseau[14]. Các nhà tư tưởng này cho rằng, vì lợi ích riêng cho mình và vì lẽ phải, cá nhân phải có nghĩa vụ chính trị đối với tập thể . Các nhà tư tưởng đó nhận thức được các ưu điểm của một xã hội dân sự trong đó các cá nhân vừa có quyền và vừa có nghĩa vụ, so với các khuyết điểm của một “nhà nước tự nhiên”, là tình trạng giả định trong đó hoàn toàn không có một thẩm quyền cai trị nào cả. Ý tưởng “khế ước xã hội” phản ánh nhận thức cơ bản là một tập thể sinh động – chứ không phải chỉ là một chính quyền – phải được thành lập thì mới có được một chính thể tự do trong đó con người được bảo vệ để chống lại sự tiến công của các ý tưởng mê muội gây ra sự hỗn loạn, nạn chuyên chế, và tình trạng nổi loạn chống lại trật tự hợp lý của con người. Trong Luận cương Liên bang số 2 (Federalist Paper No. 2), John Jay[15] nhận xét rằng cá nhân phải nhường một số quyền tự nhiên của họ cho xã hội thì chính quyền mới có quyền lực cần thiết để hành động nhằm bảo đảm lợi ích chung. Do đó, sự tham gia của công dân vào một nền dân chủ theo hiến pháp cũng đòi hỏi người công dân phải có trách nhiệm tôn trọng các luật và các quyết định của tập thể trong các hoạt động công cộng, ngay cả khi cá nhân hoàn toàn không đồng ý với các luật và quyết định đó. Cả “người-vật” – như các kẻ tin vào thuyết hư vô và bọn vô chính phủ – lẫn các “người tự coi mình là thần thánh” — như những kẻ có khuynh hướng độc tài, toàn quyền thao túng pháp luật — cả hai loại người này đều bị Aristotle[16], Spinoza[17] cho là phải được trấn áp và xua đuổi ra khỏi xã hội. Hobbes, Locke và các bậc Khai sáng ra nước Mỹ cũng hưởng ứng quan điểm đó. Đó là điều kiện cốt yếu của một xã hội dân sự, không có nó thì xã hội dân sự không thể tồn tại. Các luật lệ và chính sách của một chính quyền theo hiến pháp không những chỉ có tầm mức giới hạn và căn cứ vào sự thỏa thuận mà lại còn phải có nhiệm vụ phải phục vụ cho sự an sinh của mọi người trong xã hội nói chung và còn cho cả từng cá nhân trong xã hội đó. Các chính khách Mỹ – từ những nhà cách mạng đến những người soạn thảo Hiến pháp – đều coi đó là di sản của lịch sử Hoa kỳ. Di sản đó đã bắt đầu xuất hiện từ Tuyên ngôn Độc lập (1776), qua các Điều khoản của Liên bang (1781) [Articles of Confederation (1781)], tới khi kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng (1787) [Revolutionary War (1783)], ,lúc hình thành Hiến pháp (1787) và việc phê chuẩn Luật về Quyền Con Người (1791) [Bill of Rights (1791)]. Sau đây là một số các chủ đề chung tiêu biểu cho công cuộc tranh đấu cho tự do và chế độ hiến pháp tại Mỹ.

Chủ quyền về nhân dân

“Chúng tôi Nhân dân …. quy định và lập ra Hiến pháp này.” Những từ đó trong phần Dẫn nhập của Hiến pháp diễn tả chủ thuyết chủ quyền về nhân dân, hay là nhân dân cai trị. Các nhà làm Hiến pháp đã soạn thảo và đệ trình nhân dân phê chuẩn một văn kiện dùng để cai trị, dựa trên quan niệm là quyền chính trị tối hậu không phải thuộc về chính quyền hay bất cứ một viên chức nào trong chính quyền, mà là thuộc về nhân dân. “Nhân dân Chúng tôi” là người sở hữu chính quyền, nhưng dưới chế độ đại diện dân chủ, chúng ta giao quyền cai quản công việc hàng ngày cho một tập thể các đại diện dân cử. Tuy nhiên sự ủy quyền này không hề cản trở hay giảm bớt quyền và trách nhiệm của nhân dân với tư cách là người có thẩm quyền tối cao. Tính cách chính danh của chính quyền vẫn còn thuộc về người dân được cai trị, và người dân vẫn giữ cái quyền bất khả xâm phạm là họ có thể thay đổi chính quyền một cách hoà bình hay thay đổi Hiến pháp của họ.

Chế độ pháp trị

Tuy nhiên, theo thuyết hiến pháp, chính quyền phải ngay thẳng và theo lẽ phải, không những theo quan điểm của đa số quần chúng mà còn theo với một luật cao hơn mà bản Tuyên ngôn Độc lập gọi là “Luật Thiên nhiên hay Luật Thượng đế của Thiên nhiên”. Bộ Luật Tuyên cáo năm 1766 theo đó Quốc hội Anh tuyên bố quyền chiếm hữu thuộc địa Mỹ “ để ràng buộc (họ) trong bất cứ mọi vấn đề gì”, đã làm nổi bật sự tương phản giữa cai trị theo luật pháp và cai trị bằng luật pháp. Cai trị theo luật pháp hàm ý là phải hướng lên một nền công lý và luật pháp ở mức cao hơn (có tính cách siêu việt mà ai cũng hiểu) là mức bình thường của con người hay của luật mà các chính trị gia nhất thời ban hành. Các nhà Lập quốc [Mỹ] tin rằng chế độ pháp trị là giòng máu nuôi sống trật tự xã hội Mỹ và các quyền tự do cơ bản của con người. Chế độ pháp trị cho rằng nếu quan hệ giữa chúng ta (và với nhà nước) được chi phối bởi một số luật lệ tương đối không thiên vị – thay vì là bởi một nhóm người – thì sẽ bớt khả năng là chúng ta trở thành nạn nhân của một chế độ cai trị độc đoán hay chuyên quyền. Ở điểm này, cần ghi nhận là cái nghĩa vụ chính trị bao hàm trong pháp trị áp dụng không những cho những quyền và quyền tự do của các người chịu quyền cai trị và người công dân mà cũng áp dụng cho cả các người có quyền cai trị và các người lãnh đạo. Khi không cho cả cá nhân lẫn Nhà Nước vượt qua luật tối cao của đất nước các nhà soạn thảo hiến pháp lập ra một lớp chắn bảo vệ cho quyền và quyền tự do cá nhân.

Phân chia quyền hành và hệ thống kiểm soát và cân bằng

Các nhà Lập quốc [Mỹ] phải trả lời câu hỏi là, vì phải cần có người mới làm được công việc cai trị, thì làm sao thiết lập được một chế độ cai trị theo luật chứ không phải cai trị theo người. Tựu chung là vì các vị đó cũng là những nhà chính trị thực tế nên muốn gắn liền tinh thần của chế độ hiến pháp trị vào những đặc điểm độc đáo đương thời của mình. Vấn đề nan giải vừa có tính cách triết lý vừa có tính cách thực tiễn này có lẽ được diễn tả rõ nhất bởi James Madison trong Luận cương Liên bang số 51. Madison nói rằng phải dùng tham vọng để trị tham vọng. Tư lợi của con người cần phải được gắn liền vào quyền do hiến pháp quy định. Chỉ cần hiểu biết một chút ít về bản chất của con người cũng cho ta thấy rằng “cần phải có những cơ chế như vậy mới ngăn chặn được các lạm dụng của chính quyền”. Nếu con người đều là thần thánh cả thì sẽ không cần có các cơ chế bên trong và bên ngoài để kiểm soát chính quyền. Nhưng Madison là con người thực tế. Cũng theo lời của Madison, chế độ hiến pháp trị đòi hỏi là phải có một chính sách “dùng các sự mâu thuẫn, và đối nghịch trong tư lợi để khai thác cái điểm yếu của [luôn luôn có ngay cả trong] các động cơ cao thượng”. Một chế độ hiến pháp trị, xây dựng trong tinh thần khôn ngoan tôn trọng con người, cần phải cho chính quyền có thể kiểm soát được những người dưới quyền cai trị của chế độ. Tuy nhiên, đi đôi với điều đó, nhưng không kém phần quan trọng, là phải có một cơ cấu đề phòng để kiểm soát và giữ quân bằng ngay trong chính quyền [chính quyền tự kiểm soát lấy mình].

Bằng cách chia công việc cai trị ra cho ba ngành độc lập, các nhà soạn thảo Hiến pháp Mỹ muốn giữ cho các quyền lực chính – lập pháp, hành pháp và tư pháp – không bị độc quyền nắm giữ bởi bất cứ một ngành nào. Phân bổ quyền cai trị cho ba ngành khác nhau cũng ngăn chặn việc chính quyền quốc gia lấn áp quyền của các tiểu bang. Quyền lực và trách nhiệm của chính quyền đều được cố ý để cho chồng chéo lên nhau. Một thí dụ là quyền hạn làm luật của quốc hội có thể bị chặn lại bởi quyền phủ quyết của tổng thống. Nhưng quyền phủ quyết này lại có thể bị bác bỏ bởi 2/3 số phiếu của cả hai viện. Tổng thống nắm quyền tổng tư lệnh quân đội, nhưng chỉ có Quốc hội mới có quyền lập ra và hỗ trợ quân đội, và có quyền chính thức tuyên chiến. Tổng thống có quyền bổ nhiệm thẩm phán liên bang, đại sứ, và các viên chức cao cấp trong chính quyền. Nhưng mọi sự bổ nhiệm phải có sự cố vấn và chấp thuận của Thượng viện. Không một luật nào có hiệu lực nếu không được cả hai viện thông qua.

Tòa án tối cao có quyền tối hậu hủy bỏ các hành động trái với hiến pháp của cả lập pháp lẫn hành pháp. Đây là nguồn gốc của vai trò duyệt xét luật pháp và trao quyền cho giới thẩm phán liên bang tại Hoa kỳ sau vụ kiện giữa Marbury v. Madison (1803). Quyền duyệt xét lại luật pháp không phát xuất từ văn bản của Hiến pháp Mỹ (trong Hiến pháp không có minh thị đề cập tới thẩm quyền này) nhưng là từ một số các phán xét của tòa vào những năm cuối của thế kỷ 18. Đặc điểm chung của tất cả các vụ phán xét đó là mối liên hệ giữa việc duyệt xét luật pháp và luật tối cao, ít ra là làm cơ sở có tính cách triết lý hay đạo đức để biện minh cho thẩm quyền của tòa án. Người Mỹ thời bấy giờ chắc là đã tin theo một lời dậy của người xưa cho rằng nếu luật của con người đưa ra không thuận với luật thiên nhiên thì không còn được coi là luật nữa mà đã trở thành một luật đã bị hủ hoá. Ý tưởng này đã được James Otis[18] diễn đạt một cách ngắn gọn trong bài Quyền của các thuộc địa Anh quốc đã được Khẳng định và Chứng minh [Rights of British Colonies Asserted and Proved (1764)] như sau:

“Luật thiên nhiên không phải do con người tạo ra, mà con người cũng không có quyền sửa đổi luật đó. Con người chỉ có thể hoặc tuân theo và thi hành luật đó hoặc chống lại và vi phạm luật. Nhưng không bao giờ có thể chống lại hoặc vi phạm mà lại không bị trừng phạt; ngay cả trong cuộc đời này, sự trừng phạt đó có thể dưới hình thức là khiến cho con người cảm thấy mình trở thành sa đọa, hay là cảm thấy mình, vì cái sự điên rồ và ác độc của mình, đã bị đào thải ra khỏi tập thể của các người tốt và đạo đức[và bị đẩy] xuống hàng thú vật, hay là từ cương vị là người bạn, và có lẽ là người cha, của đất nước đã biến thành loài hung bạo như sư tử, hùm beo”[19].

Thể chế liên bang

Các nhà Lập quốc [Mỹ] cũng quyết định là quyền lực phải được chia ra giữa các cấp chính quyền toàn quốc và tiểu bang. Sự thất bại của các Điều khoản của Liên minh (1781-87) để lập ra một chính phủ có thể hoạt động được tại thuộc địa Mỹ đã khiến cho các đại biểu trong cuộc Đại hội về Hiến pháp tại Philadelphia năm 1787 đặt thêm quyền lực tại trung tâm của chính quyền.

Các Điều khoản là một cách sắp xếp chuyển tiếp từ hệ thống chính quyền đầu tiên lập ra bởi Đại hội Toàn châu trong thời kỳ cách mạng sang hệ thống chính quyền liên bang lập ra bởi Hiến pháp Mỹ năm 1787. Vì đã từng thấy quá rõ tính cách áp chế của chính quyền trung ương nước Anh, nên các nhà soạn thảo các Điều khoản cố tình lập ra một “liên minh” gồm các quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên các Điều khoản không cho Quốc hội có quyền buộc các tiểu bang phải đóng góp tiền và quân đội theo yêu cầu của Quốc hội nên tới cuối năm 1786, chính quyền đã mất hữu hiệu và trở nên hoàn toàn tê liệt.

Theo Hiến pháp Mỹ thể chế liên minh (confederation) sẽ được thay thế bằng thể chế liên bang (federation) trong đó quyền lực sẽ được chia sẻ giữa một chính quyền toàn quốc và nhiều chính quyền tiểu bang. Chính quyền toàn quốc có quyền tối cao trong một số lãnh vực nhưng tiểu bang không phải chỉ thuần tuý là các đơn vị hành chánh của chính quyền trung ương. Quyền của các tiểu bang được bảo vệ bằng nhiều cách. Trước hết, bản Tu chính thứ 10 của Hiến pháp nói rõ là một số lãnh vực hoạt động được dành riêng cho các tiểu bang. Chẳng hạn chính quyền tiểu bang phần lớn chịu trách nhiệm quản lý ngân sách của mình và thực thi luật pháp trong nhiều lãnh vực trực tiếp ảnh hưởng tới dân cư ngụ trong tiểu bang. Thứ hai là quyền đại diện của các tiểu bang tại Thượng viện cũng được bảo vệ: mỗi tiểu bang, dù lớn hay nhỏ, đều có hai nghị sĩ. Thứ ba là Cử tri đoàn (electoral college), tức là tổ chức chính thức bầu ra tổng thống, là một tập hợp của các cử tri do tiểu bang chọn, mỗi tiểu bang được quyền có tối thiểu là ba người. Thứ tư là chính thể thức tu chính Hiến pháp cũng phản ánh quyền lợi của các tiểu bang, vì bất cứ một tu chính Hiến pháp nào cũng cần phải có sự chấp thuận của viện lập pháp của 3/4 số tiểu bang và 2/3 của đại diện dân cử của cả hai Viện. Các điều bảo vệ đó đều được ghi rõ trong Hiến pháp để giữ cho các tiểu bang nhỏ không bị lấn áp bởi các tiểu bang lớn. Sự chia sẻ quyền lực giữa chính quyền tiểu bang và chính quyền toàn quốc là một sự kiểm soát có tính cách cơ cấu trong một hệ thống kiểm soát và cân bằng rất tinh tế.

Công cuộc tranh đấu cho quyền cá nhân

Phần dẫn nhập của Hiến pháp đi tìm một trật tự chính trị mới dựa trên các nguyên tắc sau đây: để thành lập một sự liên minh hoàn thiện hơn, để tạo ra một hệ thống phòng vệ chung, để lập ra một chế độ công bằng, và để đảm bảo những niềm hạnh phúc tự do cho các thế hệ hiện tại và mai sau. Ngay cả trước đó, bản Tuyên ngôn Độc lập đã nói tới các “quyền bất khả xâm phạm” cố hữu trong bản chất của con người mà không một chính quyền nào có thể tước bỏ. Vào thời đó, mà ngay cả cho tới bây giờ, đã diễn ra những cuộc bất đồng ý kiến gay gắt giữa các phe phái về vấn đề làm thế nào để đảm bảo những niềm hạnh phúc tự do đó. Khi mới được soạn thảo và đưa ra các tiểu bang để phê chuẩn, Hiến pháp không có nói gì tới quyền tự do cá nhân. Một cách giải thích cho sự khác thường này là bởi vì các nhà soạn thảo Hiến pháp cho rằng quyền lực của chính quyền quốc gia mới được lập ra đã được giới hạn một cách cẩn thận đến mức không cần phải có thêm các bảo vệ khác cho quyền cá nhân. Hơn nữa, có nhà chủ trương thể chế liên bang lập luận rằng nếu kể rõ thêm các quyền thì cũng có thêm một điều đáng ngại nữa là có những quyền được coi là thiết yếu nhưng nếu không được nêu ra thì có thể bị chính quyền xâm phạm.

Mặc dầu phe Chống Liên bang thua trong vòng tranh đấu khi soạn thảo Hiến pháp 1787, nhưng họ cũng đã có thể bắt buộc đối phương phải nhượng bộ. Vì e ngại quyền lực của chính quyền toàn quốc mới [quá mạnh], họ đòi hỏi là phải ghi vào trong Hiến pháp một loạt các điều bảo vệ cụ thể cho quyền cá nhân. Tại một số các đại hội ở cấp tiểu bang họ cũng được các lãnh tụ của phe Liên bang hứa là sẽ ủng hộ thông qua những tu chính Hiến pháp thích hợp. Một số các tiểu bang lại còn đe dọa sẽ không phê chuẩn Hiến pháp trừ phi là họ được đảm bảo là phải thông qua một đạo luật về quyền. Phe chủ trương Liên bang đã giữ lời hứa. Năm 1789, Quốc hội đầu tiên của Mỹ đã chấp thuận 10 tu chính đầu tiên của Hiến pháp. Tới năm 1791, Luật về Quyền, gồm 10 điều tu chính này, đã được đủ số tiểu bang phê chuẩn. Hơn thế nữa, Tu chính số 9 – minh thị bảo vệ các quyền cơ bản không được kể rõ trong Hiến pháp – cũng khiến cho phe chủ trương Liên bang không còn e ngại là liệt kê những quyền được bảo vệ sẽ làm phương hại tới các quyền khác không được liệt kê ra một cách rõ rệt như vậy.

Luật về Dân Quyền cũng giới hạn khả năng chính quyền xâm phạm vào quyền cá nhân, bao gồm cả quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và tự do tín ngưỡng. Luật đó cũng cấm Quốc hội thông qua các luật tôn trọng việc thiết lập một tôn giáo chính thức, nghĩa là ưu đãi một tôn giáo này hơn một tôn giáo khác. Gần 2/3 Luật về Quyền là chỉ nhằm bảo vệ quyền của những người bị nghi là phạm tội hay bị truy tố vì có hành vi phạm pháp. Các quyền này bao gồm các điều như áp dụng thủ tục đúng theo luật pháp quy định, xử án công bằng, không bị ép buộc phải nhận tội, không bị chịu các hình phạt độc ác hay khác thường hay bị xử hai lần cho cùng một tội. Khi mới được thông qua, Luật về Quyền chỉ áp dụng cho các hoạt động thuộc chính quyền toàn quốc.

Kìm hãm sự nhà nước vi phạm vào quyền tự do của công dân là đề tài của các tu chính 13 (1865), 14 (1868) và 15 (1870), được mệnh danh là các Tu chính Kiến thiết [Reconstruction Amendments] và được thông qua sau cuộc Nội chiến để giải thể các định chế của chế độ nô lệ. Trong hơn 100 năm qua, nhiều quyền tự do quy định trong 10 khoản tu chính đầu tiên đã được bao gồm trong khoản tu chính thứ 14 với điều bảo đảm là không một nhà nước nào có thể không cho công dân được hưởng quyền xét xử theo luật định và quyền được luật pháp bảo vệ. Nhất là từ sau những năm 1920, mười (10) khoản tu chính đầu tiên của Hiến pháp đã giữ một vai trò ngày càng tích cực và càng có ý nghĩa trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn trong chính sách công – từ tính cách hợp hiến của việc đọc kinh trong trường học và luật thử ma-túy cho tới các vấn đề như kiểm soát sinh đẻ và hình phạt tử hình. Các nguyên tắc cơ bản như “công bằng” hay “tự do” cũng như là các phương châm của Hiến pháp như “xét xử theo luật định” và “quyền được luật pháp bảo vệ một cách bình đẳng” đã được các thế hệ kế tiếp cho những ý nghĩa mới. Những phát triển đó, thường đi kèm theo các phong trào phản đối và bất tuân luật pháp của quần chúng, phản ánh những thay đổi trong cảm nhận của con người và của tập tục xã hội trong 200 năm vừa qua.

Sự biện minh có tính cách triết lý cho Luật về Dân Quyền là đạo luật này đặt một số quyền tự do ra ngoài tầm kiểm soát của khối đa số. Điều này căn cứ trên cái tiền đề là tước bỏ quyền cơ bản của công dân sẽ làm giảm cái tư thế công dân của họ, và thực ra là làm giảm ngay cả tư cách con người của họ. Cái tập hợp lớn lao gồm các quyền được Luật về Dân Quyền và Hiến pháp bảo vệ họp thành kết cấu thiết yếu của một chính quyền tự do. Quyền công dân có thể phát sinh trực tiếp từ quyền tự nhiên hay gián tiếp qua các xếp đặt chính trị trong một xã hội xây dựng với sự thỏa thuận của dân chúng thể hiện trong Hiến pháp, qua các tiền lệ của thông luật và qua các luật lệ. Sự thành công của Madison và các người đồng nghiệp của ông trong Đại hội Hiến pháp [Constitutional Convention] và trong Quốc hội đầu tiên phản ánh cái quy cách mà các vị đó đã tiến hành để dựng lên các quy trình và cơ cấu có khả năng tự điều chỉnh để thi hành quyền một cách hợp pháp và đưa ra những tiêu chuẩn thực hiện các quyền đó tại Mỹ.

Chế độ hiến pháp trị, tự do và trật tự thế giới mới

Việc chấm dứt chiến tranh lạnh cùng với sự sụp đổ của Liên bang Sô viết và các nước phụ thuộc tại Đông Âu đã đưa tới một cảm giác chiến thắng và lạc quan trước triển vọng tốt đẹp của các ý tưởng tự do dân chủ và thể chế cai trị theo hiến pháp. Tháng 12 năm 2000, tổ chức Freedom House (Nhà Tự do), một tổ chức không lợi nhuận với mục đích phát triển dân chủ trên khắp thế giới, đã phổ biến một tài liệu nghiên cứu quy mô về tình trạng hiện tại về quyền chính trị và quyền tự do của 191 nước trên thế giới. Tập tài liệu nghiên cứu, tựa là Tự do trên Thế giới 2000-2001, cho thấy là cái xu hướng tự do gia tăng từng mức độ nhỏ kéo dài suốt 10 năm vẫn còn tiếp tục trong năm 2000. Theo nghiên cứu hàng năm của tổ chức này, 86 quốc gia gồm 2,5 tỷ [tức 2500 triệu] người ( hay 40,7 % dân số thế giới, tỷ số cao nhất từ khi tổ chức này làm điều tra nghiên cứu) được đánh giá là “có tự do”. Các người dân này được hưởng một số quyền tự do rộng rãi. Năm mươi chín quốc gia, gồm 1,4 tỷ người (23,8%) được coi là “tự do một phần”. Trong các quốc gia này quyền chính trị và quyền tự do bị giới hạn hơn. Các quốc gia này cũng là các nước có các đặc điểm như tham nhũng, đảng cầm quyền có tính cách áp chế và một số nước có xung đột về tôn giáo hay chủng tộc. Cuộc điều tra nghiên cứu cũng cho thấy là 47 quốc gia, gồm 2,2 tỷ người (35,5 %) thuộc loại “không có tự do”. Dân tại các nước này không có các quyền chính trị và quyền tự do cơ bản.

Cuộc điều tra nghiên cứu của Nhà Tự do lại củng cố sự tin tưởng hiện nay rất phổ biến rằng không còn có một chế độ nào khác tốt hơn chế độ dân chủ. Chế độ này đã trở thành một tường thành bảo vệ trong thời hiện đại. Tuy nhiên một phần di sản khác của thời kỳ chiến tranh lạnh đã trở thành một vấn đề thử thách và nan giải cho cả các nhà làm chính sách lẫn các nhà tư tưởng về chính trị. Các chế độ được bầu lên theo thể thức dân chủ, và thường thường ngay cả những chế độ đã được bầu lại hay được xác nhận lại qua các cuộc trưng cầu dân ý, lại thường hay không đếm xỉa gì đến các giới hạn quy định trong hiến pháp và do đó đã không cho người dân được hưởng các quyền cơ bản và quyền tự do. Tại nhiều vùng trên thế giới ta thấy phát sinh hiện tượng ngày càng gia tăng của chế độ dân chủ phi tự do.

Cốt lõi của vần đề này nằm trong sự khác biệt giữa chế độ dân chủ và chế độ hiến pháp trị. Vấn đề này khó được nhận rõ vì, tại Tây phương, ít ra là trong một thế kỷ, dân chủ thường là đi đôi với tự do. Trên lý thuyết, sự liên hệ của tự do với một chế độ hiến pháp trị thực ra khác với liên hệ của tự do với chế độ dân chủ. Từ thời đại của Plato và Aristotle, dân chủ đã có nghĩa là chính quyền của nhân dân. Quan niệm như vậy về dân chủ, tức là quá trình lựa chọn chính quyền, đã được trình bầy rõ ràng bởi các học giả từ Alexis de Tocqueville[20] tới Joseph Schumpeter[21] và Robert Dahl[22]. Nhà chính trị học Samuel Huntington[23] đã giải thích tại sao lại có tình trạng như vậy: bầu cử — công khai, tự do và công bằng –- là điều thiết yếu, không thể thiếu được trong chế độ dân chủ. Tuy nhiên chính phủ được bầu lên có thể không hữu hiệu, thối nát, thiển cận, vô trách nhiệm, bị chi phối bởi các đặc lợi, và do đó không thể thi hành được những chính sách theo đúng với lợi ích chung. Các điều đó khiến cho các chính phủ không được ưa chuộng nữa nhưng không phải vì thế mà các chính quyền đó không dân chủ. Dân chủ là một đặc trưng tốt cho xã hội, nhưng nó không là đặc trưng duy nhất. Sự liên hệ của dân chủ với các đặc trưng tốt cũng như xấu khác của xã hội chỉ có thể hiểu rõ hơn nếu ta tách rời dân chủ ra khỏi các đặc trưng khác của các hệ thống chính trị. Nhưng bầu cử và hậu thuẫn của quần chúng không phải lúc nào cũng bảo đảm một chế độ tự do và cai trị theo hiến pháp. Càng ngày người ta càng cảm thấy không yên tâm trước sự lan tràn của các cuộc bầu cử có nhiều đảng phái tham gia tại miền nam trung tâm Âu châu, tại Á châu, Phi châu và châu Mỹ La tinh, có lẽ vì những điều gì đã xẩy ra sau khi bầu cử. Một số các lãnh tụ được lựa chọn do bầu cử sau đó đã qua mặt quốc hội và cai trị bằng sắc lệnh của tổng thống, và do đó đã làm băng hoại các thể thức cai trị theo hiến pháp.

Lẽ dĩ nhiên cũng có những mức độ khác nhau trong các chế độ dân chủ phi tự do; từ những chế độ vi phạm nho nhỏ cho tới chế độ gần như là chuyên chế. Tại châu Mỹ La tinh có những chế độ đã tồn tại hàng thập niên qua các hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn mà vẫn không gặp phải sự chống đối công khai nào của giới quân đội cũng như của các đảng chống chính phủ. Nhưng các chế độ đó vẫn chưa được củng cố. Có nhiều nước vẫn tồn tại mặc dầu vẫn còn yếu kém về phương diện định chế hóa các cơ cấu chính thức của chế độ dân chủ. Tuy nhiên củng cố dân chủ không thể nào hoàn tất được nếu không có chế độ tự do theo hiến pháp. Ngoài việc thỏa thuận về các quy luật cạnh tranh quyền lực, về cơ bản còn cần phải có những cơ chế tự kìm hãm việc hành xử quyền lực. Một hậu quả của việc quá coi nặng tình trạng dân chủ thuần túy như là một trắc nghiệm tối hậu để xem có tự do hay không là điều đó sẽ khiến ta sao lãng việc sáng tạo ra những hiến pháp cho các quốc gia đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp. Chỉ đưa ra lịch trình bầu cử thường xuyên hay làm bảng liệt kê các quyền cũng chưa đủ mà phải xây dựng một hệ thống để giữ cho không vi phạm các quyền đó. Chính thể theo hiến pháp không thể chỉ giới hạn trong việc ấn định thể thức lựa chọn chính quyền mà phải nhìn xa hơn để tạo ra các cơ cấu có cân nhắc kỹ lưỡng, không bị chi phối bởi các tình cảm sôi nổi của quần chúng, để bảo vệ quyền tự do cá nhân và chế độ pháp trị. Điều này đòi hỏi phải có sự cam kết hỗ tương giữa các thành phần tinh hoa của đất nước – qua cái cơ chế điều hợp của hiến pháp, qua các định chế chính trị liên hệ và thường là qua cả các sự thỏa hiệp hay dàn xếp giữa các thành phần tinh hoa nữa – để cho chính quyền có thể duy trì trật tự bằng cách thành lập các liên minh giữa các đảng chính trị và các nhóm lợi ích. Mục đích là để có thể thực hiện được các giới hạn đối với chính quyền, dù là chính quyền đó dưới sự kiểm soát của bất cứ đảng nào và vào bất cứ lúc nào. Vào đầu thế kỷ 20, tổng thống Woodrow Wilson muốn thế giới an toàn để thực thi dân chủ. Sự thử thách trong thế kỷ sắp tới có thể sẽ là phải làm sao cho dân chủ an toàn đối với thế giới.

© Học Viện Công Dân 2006

Tài liệu đọc thêm

Harold J. Berman, Law and Revolution: The Formation of the Western Legal Tradition (Harvard University Press, 1983)[ Luật pháp và Cách mạng: sự hình thành của truyền thống luật pháp tại phương Tây]

Edward D. Corwin, The “Higher Law” Background of American Constitutional Law (Cornell University Press, 1990) [Bối cảnh “Luật Tối cao” của Luật Hiến pháp Hoa kỳ”]

Larry Diamond, Developing Democracy, Toward Consolidation (Johns Hopkins Press, 1999) [Phát triển dân chủ, tiến tới củng cố]

Samuel Huntington, The Third Wave: Democratization In The Late Twentieth Century (University of Oklahoma Press, 1993) [Trào lưu thứ ba: dân chủ hoá vào cuối thế kỷ 20]

Harbison Belz Kelly, et al., eds., The American Constitution: Its Origins and Developments (7th ed., W. W. Norton, 1997) [Hiến pháp Hoa kỳ: Nguồn gốc và Phát triển]

Theodore Lowi and Benjamin Ginsberg, American Government (6th ed., W. W. Norton, 2000) [Chính quyền Hoa kỳ]

Charles H. McIlwain, The Growth of Political Thought in the West (Macmillan, 1932) [Sự phát triển của Tư tưởng Chính trị tại phương Tây]

Ellis Sandoz, A Government Of Laws: Political Theory, Religion, and the American Founding (Louisiana State University Press, 1990) [Chính quyền theo Luật pháp: lý thuyết chính trị, tôn giáo và việc lập quốc tại Mỹ]

Tác giả: Greg Russell là phó giáo sư và giám đốc chương trình nghiên cứu sinh tại phân khoa Chính trị học tại trường Đại học University of Oklahoma ở Norman. Ông là tác giả của các tác phẩm Hans J. Morgenthau and the Ethics of American Statecraft, John Quincy Adams and the Public Virtues of Diplomacy, và Reconciling Internal Rights and External Wrongs: The Force of Arms and Ideas in War. Ông cũng viết nhiều bài cho các tạp chí về các đề tài như triết lý chính trị, lịch sử ngoại giao của Mỹ và bang giao quốc tế. Ông đã hoàn tất bản thảo về thuật trị nước của Theodore Roosevelt.

Ghi chú

1 John Milton (1608-1674): Thi sĩ lớn tại Anh, tác giả thiên trườnng ca nồi tiếng Paradise Lost (1667)

2 Edward Coke: 1552–1634: luật gia nổi tiếng trong lịch sử luật pháp tại Anh

3 Sir William Blackstone: (1723-1780) luật gia và giáo sư luật nổi tiếng của nước Anh. Tác giả của tác phẩm nổi tiếng về thông luật tựa là Commentaries on the Laws of England (1765–1769)

4 Thomas Jefferson (1743-1826): tổng thống thứ ba cùa Hoa kỳ (1801-1809)

5 James Madison (1751-1836): tổng thống thứ tư cùa Hoa kỳ (1809-1817)

6 Thomas Hobbes (1588-1679): triết gia chính trị của nước Anh. Tác phẩm nổi tiếng là Leviathan (1651)

7 John Locke (1632-1704): triết gia nổi tiếng của nước Anh. Các tư tưởng của ông về cai trị với sự thỏa thuận của nhân dân, quyền tự nhiên của nhân dân (quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu tài sản) có ảnh hưởng rất nhiều trong khoa triết lý chính trị.

8 Adam Smith (1723-1790): nhà kinh thế chính trị và triết gia về đạo đức của Scotland. Tác phẩm nổi tiếng của ông, Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations, giúp tạo ra khoa kinh tế học và đưa ra các lý luận nổi tiếng về tự do mậu dịch và chủ nghĩa tư bản.

9 Charles-Louis de Secondat, Baron de La Brède et de Montesquieu (1689-1755): thường được gọi là Montesquieu, nhà tư tưởng chính trị của Pháp, sinh trưởng trong Thời kỳ Ánh Sáng (thế kỷ 18). Ông nổi tiếng là người chủ trương phân chia quyền hành trong chính quyền.

10 John Stuart Mill (1806-1873): triết gia và chính trị kinh tế gia của nước Anh, một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng trong trường phái tự do cổ điển.

11 Sir Isaiah Berlin (1909-1997): triết gia chính trị và sử gia về tư tưởng, một trong những nhà tư tưởng tiến bộ nổi tiếng trongthế kỷ 20.

12 Tức là chế độ dân chủ không có tự do

13 Thời đại Tudor trong lịch sử nước Anh kéo dài 118 năm từ 1485 tới 1603

14 Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) : triết gia, nhà văn hào và lý thuyết gia chính trị, người Pháp gốc Thụy sĩ. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Social Contract (Khế ước xã hội)

15 John Jay (1745-1829): chính trị gia và luật gia nổi tiếng của Mỹ. Thẩm phán Chính đầu tiên và cũng là ít tuổi nhất của Toà án Tối cao Mỹ từ 1789 tới 1794.

16 Aristotle (384-322 trước Công nguyên): triết gia cổ Hy lạp. Môn đệ của Plato và thầy dậy của A-lịch-san Đại đế (Alexander the Great)

17 Benedictus de Spinoza (1632-1677): triết gia thuộc môn phái duy lý của thế kỷ 17. Tác phẩm nổi tiếng là Đạo đức học (Ethics)

18 James Otis (1725 – 1783): một luật sư tại Massachusetts khi Mỹ còn là thuộc địa của Anh. Ông thuộc trong số những người sớm đưa ra những quan điểm chính trị mở đường cho cuộc Cách mạng tại Mỹ.

19 “Hà chính mãnh ư hổ giã” (sách lược trị quốc trị hà khắc còn ghê gớm hơn cọp) – Khổng Tử.

20 Alexis-Charles-Henri Clérel de Tocqueville (1805-1859): nhà tư tưởng chính trị và sử gia của Pháp. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Dân chủ tại Mỹ [Democracy in America (1835 và 1840)] và Chế độ cũ và cuộc Cách Mạng [The Old Regime and the Revolution (1856)].

21 Joseph Alois Schumpeter (1883-1950); kinh tế gia người Áo, nổi tiếng về các tác phẩm về lịch sử tư tưởng kinh tế.

22 Robert Dahl: giáo sư Sterling Professor Emeritus tại phân khoa Chính trị hoa, trường Đại học Yale, hội viên Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hội triết học Hoa kỳ và viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa kỳ.

23 Samuel P. Huntington: giáo sư tại trường Đại học Albert J. Weatherhead III, tốt nghiệp tại trường đại học Yale khi 18 tuổi, tham gia quân đội, tốt nghiệp học vị tiến sĩ tại trường Đại học Harvard và bắt đầu giảng dậy tại đại học này khi mới 23 tuổi.

Các Nguyên Tắc Bầu Cử Dân Chủ

 D. Grier Stephenson, Jr.

“Mục đích của tất cả các hiến pháp chính trị là để lựa những người khôn ngoan nhất để biết phân biệt và đức độ nhất để theo đuổi mục tiêu chung của xã hội.”

James Madison The Federalist, No. 57 (Luận cương về chế độ Liên bang)

Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 tóm lược cốt lõi của lý thuyết dân chủ khi nói tới: “Chính quyền có được quyền chính đáng là nhờ vào sự thỏa thuận của những người dưới quyền cai trị”. Tám mươi bẩy năm sau, khi các bang tại Hoa kỳ giao chiến với nhau sau khi 11 bang từ chối công nhận kết quả của cuộc bầu cử năm 1860, tổng thống Abraham Lincoln nhắc lại nguyên tắc của sự thỏa thuận đó là ‘chính phủ của nhân dân, bởi nhân dân và vì nhân dân’. Dù có diễn tả thế nào chăng nữa thì thì cái nguyên tắc cơ bản này vẫn yêu cầu phải có một hệ thống bầu cử, [đó là] ‘sự lệ thuộc vào nhân dân’ mà James Madison đã công nhận năm 1788 trong Luận cương về Liên bang số 51 là ‘quyền cơ bản để kiểm soát chính quyền’. Bằng cách quyết định một cách hoà bình ai là người có quyền cai trị và bằng công nhận các quyết định của người cai trị là hợp pháp, các cuộc bầu cử cho ta những câu trả lời then chốt mà bất cứ chế độ chính trị nào cũng gặp phải. Các mục đích này có thể đạt được dễ dàng hơn khi một hệ thống bầu cử có những đặc điểm khiến cho nhiều người cùng công nhận là các cuộc bầu cử đã tự do và công bằng. Những yếu tố thuận lợi cho quan điểm đó là quyền bầu cử và việc tham gia bầu cử có tính cách mở rộng nhiều hơn là hạn chế; sự đồng đều trong số phiếu để cho không có số phiếu của nhóm này nhiều hơn số phiếu của nhóm kia; kết quả của cuộc bầu cử phải được quyết định bằng những luật lệ đã ấn định từ trước, và việc gian lận trong khi bỏ phiếu và đếm phiếu phải giảm tới mức tối thiểu có thể thực hiện được. Các tiêu chuẩn tự do và công bằng trong bầu cử này đã thay đổi trong lịch sử chính trị tại Mỹ. Sự biến đổi của các tiêu chuẩn đó phản ánh các kinh nghiệm của các thế hệ khi phải thích ứng với sự thay đổi về bản chất của tập thể chính trị, về mức độ của các sự bất đồng ý kiến trong khuôn khổ luật định, và về sự đại diện và về cơ cấu bầu cử cũng như cơ cấu hành chánh.

Ai được bầu

Theo Điều 1, đoạn 2 của Hiến pháp những ai có quyền bầu người đại diện tại Hạ viện Hoa kỳ thì cũng có quyền bầu ‘đa số các ngành của cơ chế Lập pháp của Tiểu bang’. Ngoài việc ấn định một số các điều kiện cho các chức vụ quốc gia, Hiến pháp để quyền ấn định các tiêu chuẩn và điều kiện địa phương cho từng tiểu bang. Trên thực tế, vì luật của nhiều tiểu bang nên lúc đầu số người có quyền đi bầu chỉ giới hạn cho những người đàn ông đã trưởng thành và có tài sản hay có trả một số tiền thuế. Tới năm 1830 thì điều kiện có tài sản hầu như đã không còn nữa và lúc bấy giờ tất cả các người đàn ông da trắng đã có quyền bỏ phiếu. Trước cuộc Nội chiến dân da đen thường không được đi bầu ngay cả trong các tiểu bang đã bãi bỏ tình trạng nô lệ. Khi ngưng tiếng súng vào năm 1865, ba tu chính quan trọng của Hiến pháp báo trước những sự thay đổi lớn về quan điểm thế nào là tập thể chính trị tại Mỹ – tức là những người được quyền bỏ phiếu và những người ứng cử. Tu chính thứ 14 (1868) cho rằng: ‘ Những người sinh tại Mỹ hay nhập quốc tịch Mỹ và thuộc thẩm quyền của Hoa kỳ, đều là công dân của Hoa kỳ và của tiểu bang nơi cư ngụ’ – như vậy là lần đầu tiên tư cách công dân Hoa kỳ và công dân tiểu bang đã được quy định theo Hiến pháp. Tu chính cũng còn nói rằng: ‘ không một tiểu bang nào có quyền từ chối quyền bảo vệ trước pháp luật cho bất cứ người nào sống trong thẩm quyền của tiểu bang’. Tu chính thứ 15 (1870) xóa bỏ việc dùng chủng tộc như là một tiêu chuẩn để đi bầu, nhưng đến cả mấy chục năm sau lời cam kết này mới thực hiện được. Thực vậy, có những tiểu bang đã tìm ra những cách tránh né Hiến pháp. Một trong những các tránh né đó là đưa ra ‘điều khoản cha ông’(grandfather clause) mà mãi tới năm 1915 mới bị Toà án Tối cao của Mỹ tuyên bố là không có giá trị. Điều khoản đó chủ yếu là miễn trắc nghiệm biết chữ cho những người đi bầu và các con cháu trực hệ của họ nếu họ đã đi bầu từ trước ngày 1 tháng giêng năm 1866. Cái thời điểm này khiến cho hầu hết các người da đen phải thi trắc nghiệm biết chữ mà họ khó có thể đậu. Một luật lệ nữa còn sống dai hơn cả ‘điều khoản cha ông’ là cách bầu vòng sơ khởi của dân da trắng. Bầu vòng sơ khởi – tức là bầu trong nội bộ đảng để lựa ứng viên – đã được áp dụng phổ biến trong nhiều vùng tại Mỹ như là một cách dân chủ hóa trong đảng bằng cách chuyển quyền lựa ứng viên từ giới lãnh đạo đảng xuống cử tri đoàn (electorate). Tại những tiểu bang mà chỉ có một đảng chiếm ưu thế như đảng Dân chủ tại các tiểu bang miền Nam, thì bầu vòng sơ khởi thực tế là đã trở thành bầu cử thực sự bởi vì đảng Cộng hoà chỉ có thể đối lập một cách tượng trưng hay gần như không thể đối lập trong một cuộc tổng tuyển cử. Thành ra ngay cả khi dân da đen có thể bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử, nhưng luật lệ một số tiểu bang không cho họ bỏ phiếu trong vòng sơ khởi, và do đó họ không có ảnh hưởng gì trong các cuộc bầu cử tại tiểu bang hay địa phương. Mãi tới năm 1944 thì Toà án Tối cao mới khẳng định là quyền đi bầu được bảo đảm trong Tu chính 15 áp dụng cho cả vòng sơ khởi lẫn tổng tuyển cử. Tuy nhiên, ngay cả vào đầu thập niên 1960, trong 4 người da đen đủ điều kiện đi bầu mới chỉ có một người ghi danh, tỷ số thực sự đi bầu còn thấp nhiều hơn nữa. Những biện pháp áp dụng về hai mặt đã tạo ra những thay đổi lớn trong vòng 10 năm, khiến cho tỷ số người da đen đi bầu cũng sấp sỉ bằng tỷ số người da trắng. Biện pháp thứ nhất là việc bãi bỏ luật chỉ cho những người đóng thuế thân có quyền đi bầu, khiến cho những người nghèo, đa số là da đen, không được đi bầu. Tu chính 24 (1964) cấm việc dùng tiêu chuẩn đóng thuế thân trong các cuộc bầu cử liên bang; hai năm sau thì Toà án Tối cao tuyên bố là yêu cầu đóng thuế thân trong các cuộc bầu cử tiểu bang là bất hợp hiến. Biện pháp thứ nhì là Luật về Quyền Bỏ Phiếu năm 1965 – đạo luật bầu cử quan trọng nhất đã được Quốc hội thông qua từ trước đến nay – đã vô hiệu hoá được phần lớn các mánh khóe kín đáo để ngăn không cho người da đen đi bầu. Nhờ các biện pháp như giám sát bầu cử của liên bang và hủy bỏ trắc nghiệm biết chữ, số dân da đen ghi danh đi bầu đã tăng gấp đôi tại bang Georgia, gần như gấp ba tại bang Alabama, và vượt lên tới gấp 8 tại Mississipi. Ngược lại, phong trào phụ nữ đòi quyền bỏ phiếu, bắt đầu từ những năm 1840, phải mất nhiều thời gian hơn mới thành công, nhưng sau khi thành công thì không cần có thêm luật để bảo vệ. Năm 1869, vùng lãnh thổ Wyoming là đơn vị chính trị đầu tiên tại Hoa kỳ đã cho phụ nữ có quyền bỏ phiếu. Nhưng các bang khác thì tiến hành rất chậm, nhất là sau khi Toà án Tối cao năm 1875 đã phán quyết là các tiểu bang có thể tiếp tục không cho đàn bà bỏ phiếu mà không vi phạm Tu chính 15 của Hiến pháp. Tới cuối thế kỷ 19 có ba tiểu bang nữa cho phép đàn bà đi bầu. Tu chính 19 cho phép đàn bà đi bầu cả nước, và được kịp thời áp dụng cho các cuộc bầu cử năm 1920.

Ai được ứng cử

Các quy định về khía cạnh thứ hai của sinh hoạt chính trị – tức là quyền ứng cử vào các chức vụ trong lãnh vực công – luôn luôn cân bằng hai giá trị trái ngược với nhau. Một mặt thì các tiểu bang vẫn theo các truyền thống là có tính cách bao gồm tất cả mọi thành phần. Nghĩa là khi một cá nhân đã hội đủ các điều kiện về tuổi tác, nơi cư ngụ và tình trạng quốc tịch thì người đó có quyền ghi danh ứng cử để cho cử tri lựa chọn. Hiến pháp luôn luôn ngăn cấm việc dùng tiêu chuẩn tôn giáo để xét tư cách ứng cử, và năm 1961 Tòa án Tối cao cũng phán quyết là các tiểu bang không được dùng tiêu chuẩn tôn giáo để xét tư cách ứng cử. Mặt khác, đa số các tiểu bang đã cố gắng để giữ cho số ứng viên và đảng phái không quá nhiều. Vì các đảng phái chính trị có chức năng là tập hợp và đón nhận các lợi ích khác nhau nên truyền thống chính trị tại Mỹ thường thích có sự cai trị của một đảng chiếm đa số trong đó đã tập hợp các liên minh khác nhau, thay vì là của một đảng chiếm đa số nhưng lệ thuộc vào sự liên minh của các đảng khác nhau. Cái ý thích đó nhằm tạo ra một hệ thống khiến cho người thắng cử sẽ có đa số phiếu hay ít ra là cũng được sự hậu thuẫn của nhiều nhóm; điều này khó thể có được nếu có quá nhiều ứng viên hay quá nhiều đảng. Các mục tiêu này thường đạt được bằng cách đòi hỏi là một người muốn ứng cử vòng tuyển chọn sơ bộ trong đảng phải có một số chữ ký ủng hộ trong đơn xin ứng cử (và cũng phải trả một lệ phí ghi danh). Số chữ ký và tiền lệ phí ghi danh cho các chức vụ ở cấp tiểu bang thường cao hơn nhiều so với các chức vụ ứng cử ở các cuộc bầu cử địa phương. Cũng tương tự như vậy đối với các đảng phái. Một đảng muốn tên ứng viên của mình được ghi trong lá phiếu có thể được yêu cầu chứng minh là đã có sẵn một hậu thuẫn tối thiểu dưới hình thức như số chữ ký ủng hộ trong đơn xin hay số phiếu đã có được trong cuộc bầu cử trước. Các luật lệ về bầu cử của tiểu bang cũng gây ra những trở ngại đặc biệt cho những ứng viên của ‘đảng thứ ba’ (ngoài hai đảng chính là Cộng hoà và Dân chủ) muốn ứng cử tổng thống. Các ứng viên tranh cử cấp liên bang và tiểu bang cũng như cấp địa phương phải hội đủ điều kiện tranh cử của từng tiểu bang thì mới được ghi tên vào trong lá phiếu của tiểu bang đó. Điều này có thể dễ dàng đối với hai đảng chính nhưng có thể rất khó khăn đối với một đảng thứ ba. Tuy nhiên, tư thế áp đảo của một trong hai đảng chính trong lịch sử Mỹ không giới hạn sự lựa chọn của các người đi bầu nhiều như người ta tưởng. Sở dĩ như vậy là vì có ba lý do: chủ trương của hai đảng chính cũng đã thay đổi theo với thời gian; các đảng thứ ba cũng đã khiến các đảng chính nhận thấy các quan điểm thay đổi trong số cử tri; và bất cứ một chính sách nào do Quốc hội hay hệ thống hành chánh của tổng thống ban hành cũng có thể bị khiếu nại tại Tòa Tối cao về tính cách hợp hiến của chính sách đó.

Giới hạn của sự chống đối trong khuôn khổ luật pháp

Quyền bỏ phiếu sẽ vô nghĩa nếu không có sự lựa chọn. Muốn có sự lựa chọn thông minh thì các công dân phản đối chính quyền phải được công khai trình bầy quan điểm của mình, phê bình chính sách [của chính quyền] cũng như huy động và tổ chức những người ủng hộ mình. Không thể nào có bầu cử tự do và công bằng khi các viên chức nhà nước có quyền không cho phê bình chỉ trích. Tại Mỹ tiếng nói chống đối thường được nhiều tự do. Tuy nhiên cũng đã có những trường hợp biệt lệ đáng kể trong đó quyền tự do đã bị đe dọa ngay trong những giai đoạn cần thiết nhất. Trong vài giai đoạn lịch sử, có một số người đã cho rằng sự an ninh của nền cộng hòa tùy thuộc vào việc chặn đứng những quan điểm đối nghịch và có hại. Các thí dụ điển hình của các trường hợp này được thấy từ Luật Phản loạn năm 1978, suốt trong 3 năm đã quy định là tội phạm tất cả những lời chỉ trích gây tai tiếng cho tổng thống hay Quốc hội cho tới việc áp dụng Luật Smith (Smith Act) trong thời kỳ chiến tranh lạnh của những năm 1950, đặt vào vòng phạm pháp tất cả những chủ trương hô hào lật đổ chính phủ. Mặt khác, có những người chủ trương cách tốt nhất để duy trì an ninh là bằng tự do. Đó là quan điểm mà các nhà Lập quốc thấy là thích hợp và quan điểm này đã thể hiện trong đa số các phán quyết của toà. Thẩm phán tòa Tối cao Robert H. Jackson năm 1943 đã viết: “Quyền tự do bất đồng ý kiến không thể chỉ giới hạn trong những vấn đề không quan trọng. Như vậy mới chỉ là cái bóng tự do thôi. Cái trắc nghiệm về tính cách thực chất của tự do là ở trong quyền được bất đồng ý kiến trong những vấn đề liên hệ tới cốt lõi của chính thể đương nhiệm.” Thẩm phán William J. Brennan năm 1964 cũng đưa ra ý kiến là “ Tranh luận về các vấn đề công cần phải không bị kìm hãm, phải mạnh mẽ, cởi mở và rộng rãi, và rất có thể là phải bao gồm những lời chỉ trích mãnh liệt, chua cay và sắc bén đối với các viên chức trong chính quyền và lĩnh vực công.” Nói tóm lại, tuy chính quyền có thể ngăn chặn những lời lẽ khích động khi có thể xẩy ra bạo động, nhưng hiện nay theo Hiến pháp thì không có cái gì gọi là tư tưởng bất hợp pháp. Năm 1927, thẩm phán Louis D. Brandeis đã tuyên bố rằng: “ Nếu có lúc cần phải vạch trần các sự man trá giả dối bằng thảo luận thì phương thuốc công hiệu là phải cho nói nhiều hơn chứ không phải là không cho nói.”

Quyền đại diện

Bầu cử là tuyển lựa các viên chức thay mặt nhân dân để làm việc. Tại Mỹ mối liên hệ này được thấy rõ ràng tại các viện lập pháp của tiểu bang và tại Quốc hội Mỹ là nơi có nhiệm vụ làm luật cho cả một tiểu bang hay cho một phần của tiểu bang gọi là một khu. Hệ thống đại diện dùng trong một tiểu bang hay một quốc gia là quan trọng vì nó ảnh hưởng tới sự phân bố quyền lực không những giữa các vùng địa dư mà còn giữa các quyền lợi đối nghịch với nhau. Chẳng hạn như tại Quốc hội Mỹ thì Hiến pháp quy định mỗi tiểu bang được cử hai nghị sĩ còn tại Hạ viện thì việc phân bổ số người đại diện tùy thuộc vào dân số. Do đó bang Wyoming, với 500 000 dân, cũng có cùng một số nghị sĩ tại Thượng viện như bang California với dân số 34 triệu. Tuy nhiên tại Hạ viện, bang Wyoming chỉ có một dân biểu trong khi đó bang California, căn cứ theo kiểm tra dân số năm 2000, có 53 dân biểu. Cách sắp xếp có tính cách dung hòa này của Đại hội Hiến pháp 1787 khiến cho các tiểu bang nhỏ có vai trò chính trị quan trọng hơn là nếu quyền đại diện chỉ căn cứ vào dân số. Các viện lập pháp của tiểu bang có nhiệm vụ lập ra các khu bầu cử cho tiểu bang và cho đại diện của tiểu bang tại Hạ viện Mỹ. Tại Mỹ, tuyệt đại đa số là thích thể thức mỗi khu bầu cử có một đại diện — nếu một tiểu bang có 10 đại diện tại Hạ viện thì tiểu bang được chia thành 10 khu bầu cử, mỗi khu bầu cử có một đại diện. So với thể thức đại diện theo tỷ lệ và một vài loại thể thức mỗi khu có nhiều đại diện thì thể thức mỗi khu một đại diện không thuận lợi cho sự hiện diện của một đảng thứ ba. Thể thức này cũng có thể giảm rất nhiều ảnh hưởng chính trị của một thiểu số chính trị lớn. Lý do là vì ranh giới của các vùng bầu cử có thể được ấn định để gia tăng hay giảm bớt lực lượng của một nhóm cử tri hay của một đảng chính trị. Cách phân ranh chính trị để vơ lấy ưu thế cho mình trong tiếng Mỹ gọi là ‘gerrymandering’ (một từ tạo ra bằng cách ghép tên của thống đốc bang Massachusetts năm 1812 Elbridge Gerry và từ ‘salamander-con kỳ giông’; ông Gerry đã chủ trì việc phân ranh giới khu bầu cử trong tiểu bang của ông khiến cho khu bầu cử có hình như con kỳ giông )[Xin xem hình ở cuối bài –Ghi chú của người dịch* ]. Nếu cách phân ranh chính trị vơ lấy ưu thế này trở nên quá đáng hoặc kéo dài thì Tòa án tối cao có thể cho là vi hiến, nhưng trong một chừng mực nào đó thì người ta cũng chấp nhận nó như là một tập tục lâu đời trong sinh hoạt chính trị Hoa kỳ. Tuy nhiên, việc định ranh giới khu bầu cử để giữ ưu thế cho đảng mình vẫn phải tuân theo một số nguyên tắc. Các khu phải được ấn định một cách không có vẻ võ đoán và phải gọn và tiếp cận nhau. Tuy vậy, cuộc bầu cử vào những năm có kiểm tra dân số (10 năm một lần) có tầm quan trọng đặc biệt vì đảng nào chiếm đa số trong viện lập pháp vào thời gian đầu của thập niên kiểm tra sẽ ấn định ranh giới khu bầu cử cho viện lập pháp và quốc hội có giá trị cho tới sau kỳ kiểm tra dân số tới. Tuy nhiên, đã từ lâu Tòa án tối cao đã hủy bỏ một cách phân ranh khu bầu cử có tính cách không công bằng thái quá trong việc đại diện. Trong những năm 1950 tại hầu hết các tiểu bang đã có những sự chênh lệch đáng kể về con số trong các khu bầu cử vào viện lập pháp và quốc hội. Khi dân chúng di cư từ vùng nông thôn ra thành thị thì việc phân ranh khu bầu cử đã không thay đổi kịp. Có một số vùng nông thôn ít người lại được đại diện nhiều hơn là vùng thành thị đông người. Lẽ dĩ nhiên là các đại biểu lập pháp đương nhiệm không nhiệt thành tự biểu quyết cho mình và các nhóm lợi ích của mình mất quyền lực. Một loạt các quyết định của Tòa án Tối cao vào những năm 1960 đã hủy bỏ cách phân chia ranh giới như vậy. Thay vào đó Tòa ra lệnh là việc phân chia ranh giới phải được đặt trên căn bản mỗi người một phiếu. Nghĩa là số người trong một khu bầu cử phải bằng với số người trong tiểu bang chia cho số khu bầu cử. Trong thập niên đó, Tòa đã tiến hành một cuộc thay đổi lớn lao về thể thức đại diện chính trị tại Hoa kỳ, chuyển quyền lực chính trị từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt là các vùng ngoại ô. Kết quả là đa số dân chúng đã có quyền bầu phần lớn đại diện trong các cơ quan lập pháp.

Cơ cấu và thể thức bầu cử

Cơ cấu và thể thức bầu cử cũng có thể góp phần gia tăng hay giảm bớt cái cảm tưởng cho cuộc bầu cử là tự do và công bằng. Cứ xem cách thức làm trở ngại việc đi bầu, thể thức đếm phiếu và các quy định về tài chánh thì rõ. Một trong những sự kiện nổi bật nhất về bầu cử tại Mỹ là hiện tượng rất phổ biến về số người không đi bầu (tại Mỹ, đi bầu là tự nguyện và không có tính cách bắt buộc trước pháp luật như ở một vài nước.) Ngay cả trong các cuộc bầu cử quan trọng như bầu cử tổng thống, trong những năm gần đây tỷ lệ đi bầu chỉ vào khoảng 50%, nghĩa là một nửa những người trong tuổi đi bầu (tức là hầu hết những người từ 17 tuổi trở lên) không đi bầu. Tỷ lệ này tương phản với tỷ lệ đi bầu vào khoảng 65% trong cuộc bầu cử năm 1960, là một tỷ lệ cao trong thời nay. Như vậy khi tổng thống Bill Clinton thắng cử năm 1996 với tỷ lệ 49% của số phiếu phổ thông thì thực sự ông mới chỉ là sự lựa chọn của dưới ¼ số cử tri. Tại sao lại có xu hướng đó? Có thể là các yếu tố như sự suy giảm trong tinh thần cộng đồng và nghĩa vụ công dân, sự thờ ơ của người đi bầu vì họ cho rằng bầu cử chẳng có ảnh hưởng gì tới cuộc sống của họ, tỷ lệ gia tăng của những hộ mà cả hai vợ chồng đều phải đi làm cũng làm giảm tỷ số đi bầu; ngoài ra người ta cũng có cảm giác là trong những lần bầu cử gần đây vào thời bình và kinh tế phồn vinh, không có vấn đề gì có tầm quan trọng đặc biệt. Cũng cần nhớ là đi bầu tại Mỹ bao gồm ba quyết định khác nhau. Ngoài việc quyết định đi bầu và bầu cho ai, người muốn đi bầu còn phải đăng ký đi bầu nữa. Cái yêu cầu này hình như làm trở ngại việc đi bầu vì danh sách cử tri thường kết thúc vài tuần trước khi bầu cử. Hơn nữa đăng ký bầu cử là do tiểu bang phụ trách và trong mỗi tiểu bang thì lại do hạt (county) thi hành, mỗi hạt lại chia ra nhiều khu (precinct). Những người mới đổi chỗ ở luôn luôn phải ra đăng ký lại hay là phải nhắc cơ quan chuyển tên mình sang địa phương khác. Do đó, vì dân Mỹ hay di chuyển nên luôn luôn sẽ có một số người không đi bầu vì không được đăng ký. Người ta cũng không biết rõ là nếu cải thiện thể thức đăng ký, chẳng hạn như tự động đăng ký mỗi khi lấy hay đổi bằng lái xe (còn gọi là thể thức ‘cử tri lái xe’ “motor voter” ), thì tỷ số đi bầu có gia tăng hay không. Trong việc đếm phiếu, trong nhiều năm cũng đã có những quy định pháp lý để bảo đảm cho công bằng và không bị nhầm lẫn. Vì vậy các tiểu bang đều có luật quy định các trường hợp cần đếm lại phiếu và cho phép người có vẻ thất cử được tranh biện về cuộc bầu cử. Nếu không làm như vậy thì các nghi ngờ về đếm phiếu chính xác có thể làm dân chúng mất tin tưởng vào sự công minh của bầu cử và làm giảm tư cách hợp pháp của người được tuyên bố là thắng cử. Không có thí dụ nào rõ ràng hơn về điểm này bằng cuộc bầu cử tổng thống dằng dai năm 2000; thí dụ này cho ta thấy rõ hơn bao giờ hết những vấn đề có thể nẩy sinh trong cái công việc tầm thường như đếm phiếu.

Bầu cử tổng thống

Theo Hiến pháp mỗi một tiểu bang được chia cho một phần phiếu của tập đoàn bầu cử (electoral vote) bằng với số đại diện của bang tại Quốc hội, riêng vùng District of Columbia thì theo Tu chính Hiến pháp thứ 23 (năm 1961) được ba phiếu của tập đoàn bầu cử. Một ứng viên tổng thống có được đa số phiếu trong tổng số 538 phiếu của tập đoàn bầu cử (ít nhất là 270 phiếu) thì sẽ thắng cử. Những phiếu này do các tập đoàn bầu cử bỏ khi họ tập họp tại thủ đô của tiểu bang vào ngày 18 tháng 12 ( do đó trong tiếng Mỹ gọi là ‘Electoral College’, “tập đoàn bầu cử”). Hiến pháp quy định là tập đoàn bầu cử tại mỗi tiểu bang “ được bổ nhiệm theo thể thức do viện Lập pháp của bang ấn định.” Từ giữa thế kỷ 19, những thành viên của tập đoàn bầu cử tại mỗi tiểu bang đều do dân chúng của tiểu bang bầu ra. Trong số 50 tiểu bang, ngoại trừ bang Maine và Nebraska, đều có quy định là ứng viên nào có được đa số phiếu của tập đoàn bầu cử thì được coi như là có được tất cả số phiếu của tập đoàn, những phiếu bỏ cho các ứng viên khác đều coi như là không có. Hệ thống Tập đoàn bầu cử có vẻ là một hệ thống lỗi thời, ngay cả đối với nhiều người Mỹ. Trong cuộc bầu cử năm 2000, ngay sau ngày bầu cử (7 tháng 11), Florida đã trở thành tiểu bang có tranh chấp gay go cũng chỉ vì hệ thống tập đoàn bầu cử. Cuộc bầu cử tổng thống tại bang Florida đã bị tranh cãi trong suốt tháng 11 và sang tháng 12 năm 2000 vì số phiếu phổ thông trong bang đó cho hai ứng viên George W. Bush và Albert Gore đã rất xít xao. Vì kết quả số phiếu của tập đoàn bầu cử cho hai ứng viên Bush và Gore ở các bang khác cũng rất sát nhau nên không có ứng viên nào có đủ số 270 phiếu nếu không thắng được 25 phiếu của Florida. Ứng viên nào có nhiều phiếu phổ thông hơn trong bang Florida sẽ trở thành tổng thống thứ 43. Mặc dầu ai cũng công nhận là Gore dẫn đầu cả ngàn phiếu trong số phiếu phổ thông trên toàn quốc, nhưng số phiếu hơn đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Chỉ có số phiếu phổ thông tại Florida mới là quan trọng. Phần lớn các phiếu tại Florida đều được đếm bằng máy. Tuy nhiên có một số phiếu máy không đếm được vì người bỏ phiếu không có bấm lỗ cho thủng hết, hay là đã bấm rối nhưng mảnh giấy bấm hãy còn dính vào phiếu (tiếng Mỹ gọi là ‘chad’) hay là chỉ bấm lõm xuống mà không thủng. Máy đếm phiếu coi những phiếu đó là bất hợp lệ. Hình như lại có những người không bỏ phiếu cho cuộc bầu cử tổng thống nữa. Tình trạng này cũng xẩy ra tại các bang khác nhưng vấn đề không được đặt ra vì số sai biệt không đến nỗi quá xít xao và do đó tầm quan trọng không có tính cách quyết định. Chỉ thiếu có vài trăm phiếu (trong tổng số 6 triệu phiếu của tiểu bang) nên Gore và các ủng hộ viên của mình muốn các viên chức bầu cử trong mỗi khu kiểm lại các phiếu đã bị máy cho là bất hợp lệ. Phe của Bush thì lại sợ rằng dùng người kiểm lại phiếu để xác định ý muốn của người bỏ phiếu sẽ bị chi phối bởi yếu tố chủ quan và khiến cho ông bị thất cử oan. Ông Bush cho rằng máy đếm sẽ không thiên vị một ai, còn người đếm thì lại bị chi phối bởi áp lực xuất phát từ những yếu tố rủi ro. Cuộc tranh cãi này thực ra đã che khuất cái quan điểm chung của hai người là họ đều muốn phiếu được đếm một cách công bằng. Họ chỉ bất đồng ý kiến ở chỗ làm thế nào để đếm công bằng. Rốt cục, vào trung tuần tháng 12, tòa Tối cao Mỹ đã phán rằng đếm phiếu bằng người không thể được tiến hành theo với một tiêu chuẩn đồng nhất để xác định ý muốn của người đi bầu. Vì sắp đến ngày bỏ phiếu của tập đoàn bầu cử nên toà Tối cao quyết định rằng đếm phiếu bằng người là không thể được công nhận theo hiến pháp vì phiếu của người này có thể bị cứu xét khác với phiếu của người khác, và do đó trái với điều khoản bảo vệ công bằng của Tu chính thứ 14. Quyết định này của tòa cao nhất nước Mỹ sẽ có ảnh hưởng sâu xa ngoài cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 bởi vì toà đã ấn định thể thức kiểm phiếu cho tất cả mọi cuộc chạy đua chính trị trong tương lai ở bất cứ nơi nào trong nước Mỹ. Từ bây giờ trở đi kiểm lại phiếu chỉ có thể được tiến hành theo các tiêu chuẩn đảm bảo sự đối sử đồng đều để giảm tới mức tối thiểu yếu tố chủ quan.

Giới hạn chi tiêu

Cuộc bầu cử năm 2000 cũng đáng chú ý vì nó nêu cao vai trò của tiền bạc trong việc giành phiếu. Có người nói rằng nhà chiến lược tranh cử của đảng Cộng hòa Mark Hanna trước đây một thế kỷ đã nói: “Có hai yếu tố quan trọng trong chính trị: yếu tố đầu tiên là tiền còn yếu tố thứ hai là gì mà tôi quên mất.” Đạo Luật Bầu cử Liên bang (Federal Election Campaign Act [FECA] ) trong các tu chính năm 1974 đã ấn định các hạn chế quan trọng về nguồn, số tiền và cách sử dụng quỹ tranh cử để tránh nạn tham nhũng hay cách làm việc có vẻ như tham nhũng. Tuy nhiên các tu chính này lại đụng chạm tới tu chính Thứ Nhất về quyền tự do ngôn luận và tự do lập hội, vì trong chính trị có tiền là có quyền nói: các ứng viên các đảng phái và các đoàn thể chính trị khác cần có tiền để củng cố tổ chức và để phổ biến các thông điệp của họ qua các cơ quan truyền thông. Năm 1976, khi ủng hộ một phần của đạo luật phức tạp đó, tòa Tối cao đã đưa ra một sự phân biệt quan trọng về hiến pháp giữa tiền đóng góp và tiền chi tiêu [cho tranh cử]. Vì giới hạn tiền đóng góp được coi là ít phương hại tới quyền tự do ngôn luận hơn là giới hạn chi tiêu và vì tiền đóng góp có nhiều hiểm họa gây ra tham nhũng hay là những hành động có vẻ tham nhũng, nên Tòa đã không thừa nhận các quy định giới hạn chi tiêu nhưng tòa đã ủng hộ việc giới hạn tiền đóng góp. Tòa cũng ủng hộ một kế hoạch tài trợ có điều kiện các cuộc tranh cử tổng thống (trên cơ sở trợ cấp thêm trong vòng tranh cử sơ bộ và vòng đề cử ứng viên; và trợ cấp toàn phần trong cuộc tổng tuyển cử) với điều kiện là các ứng viên phải chịu tuân theo các giới hạn về chi tiêu. Mục đích một phần là để cho các ứng viên chính của các đảng có điều kiện tài chánh đồng đều trong việc tranh cử. Ngoài các giới hạn tiền đóng góp chính thức do FECA ấn định còn có các đóng góp ‘bán chính thức’ không bị quy định như tiền đóng góp để xây dựng đảng, cổ động bỏ phiếu và các chiến dịch trên báo chí về một vấn đề cụ thể nhất định.

Một quá trình dân chủ ổn định

Bầu cử tự do và công bằng là cốt yếu để đảm bảo ‘sự thỏa thuận của người dân dưới quyền cai trị’, tức là nền tảng cho một chế độ chính trị dân chủ. Các cuộc bầu cử đó là các công cụ vừa để trao quyền và vừa để thừa nhận chính danh cho người cầm quyền; ngược lại các cuộc bầu cử không công bằng và thiếu ngay thẳng có thể tạo ra các nghi ngờ về quyền nhiệm chức và làm giảm khả năng cai trị của người cầm quyền. Ít người dám nói là thể thức bầu cử chính trị tại Mỹ là toàn hảo. Đôi khi một số đặc điểm của chế độ bầu cử đó đã làm trở ngại, làm lạc hướng, làm câm lặng hay bóp méo sự thỏa thuận của dân chúng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, đa số dân Mỹ tin rằng nói chung thì hệ thống bầu cử của họ là công bằng và ngay thẳng. Lý do thứ nhất là với bài học kinh nghiệm đáng kể của các cuộc tranh chấp dẫn tới cuộc Nội chiến trước đây hơn 150 năm, các cuộc bầu cử tại Mỹ đã có tác dụng là phương tiện hữu hiệu để xác định ai thắng ai thua. Các ứng viên thua và các ủng hộ viên của họ đã sẵn sàng, và nhiều khi lại còn vui vẻ chịu thua, nhượng quyền cai trị cho người thắng. Đây không phải là một điều không quan trọng. Sự chấp nhận như vậy đòi hỏi phải có một chế độ chính trị ổn định trong đó các giá trị và quyền lợi tối cao hầu như là không bao giờ bị đe dọa. Lý do thứ hai là khi thường xuyên có các cuộc bầu cử tức là không có một đảng nào hay một thành phần trong đảng được bảo đảm là nắm quyền mãi mãi. Thành phần đa số hôm nay có thể bị thay thế bởi một thành phần đa số khác vào ngày mai. Điểm then chốt của thuyết dân chủ là tư thế đa số luôn luôn thay đổi. Lý do thứ ba là tư thế đa số chỉ có tính cách nhất thời vì hệ thống bầu cử bảo vệ quyền cạnh tranh. Cuộc bầu cử mà không có đối lập thực sự là bầu cử giả hiệu. Lý do cuối cùng là các cuộc bầu cử tại Mỹ duy trì mối liên hệ giữa cử tri và người cầm quyền. Người cầm quyền phải có hậu thuẫn của đa số cử tri thì mới được cai trị. Do đó dân chúng coi các viên chức dân cử như là người đại diện cho họ và được họ cho quyền làm thay họ. Các cuộc bầu cử ở Mỹ đã thực sự khiến các viên chức trở thành công bộc của dân thay vì là dân làm nô bộc cho chính quyền. Nhưng dù ta có đo lường mức tiến bộ của nền chính trị dân chủ Hoa kỳ thế nào đi chăng nữa thì các quốc gia khác có lẽ cũng không áp dụng mô hình Mỹ với tất cả những điểm đặc thù của nó. Một số các điểm này còn hiện hữu là do các tồn tại của lịch sử. Nếu một nước Mỹ khác được lập quốc vào thế kỷ thứ 21 chắc sẽ không chọn lựa vị nguyên thủ hành pháp bằng tập đoàn bầu cử. Nước Mỹ đó có lẽ cũng không cho tất cả các bang có số phiếu như nhau trong Thượng viện. Các đặc điểm khác như tự do báo chí và bầu cử phổ thông để chọn đại biểu quốc hội chắc chắn là sẽ được giữ lại. Tuy nhiên các bài học xuất phát từ kinh nghiệm dân chủ của Mỹ đã nêu ra những đặc điểm có lẽ là thiết yếu cho việc duy trì một quá trình dân chủ ổn định tại các nơi khác. Đó là: Trước hết, việc có lá phiếu và tiếp cận với phòng bỏ phiếu phải dễ dãi cho tất cả mọi người; không có lá phiếu nào có giá trị hơn lá phiếu nào. Hạn chế các tập thể chính trị trên căn bản giới tính, xu hướng chính trị hay tôn giáo, v.v. sẽ làm giảm tính cách chính danh của chế độ. Hệ thống phổ thông đầu phiếu sẽ khiến tất cả mọi thành phần trong xã hội cảm thấy gắn bó với chế độ hiện hữu vì trước sau thì mọi người đều có cơ hội vươn lên. Điểm thứ hai là phải chú trọng vào việc nâng cao tỷ số đi bầu trong các cuộc bầu cử. Tỷ số đi bầu thấp là một điều đáng quan tâm mà có thể là điều đáng ngại nữa. Tỷ số đi bầu thấp có thể đưa tới tình trạng những người được bầu không có đa số ủng hộ và kết quả bầu cử bị chi phối quá mức bởi các nhóm lợi ích có tổ chức và có động cơ thúc đẩy mạnh. Điểm thứ ba là tự do phát biểu chính kiến rộng rãi là điều then chốt trong quá trình dân chủ. Giới hạn sự bất đồng ý kiến hợp pháp không những làm trở ngại hệ thống bầu cử chính trị bằng cách gây khó khăn cho các người đối lập mà lại còn đẩy các người đối lập ra khỏi môi trường tham gia chính trị hợp pháp vào con đường chống đối bằng bạo động. Điều thứ tư là thể thức bầu cử và hệ thống đại diện phải cho đa số dân chúng có thể kiểm soát chính quyền, nhưng cũng phải có những biện pháp ngăn ngừa đa số lấn át và loại trừ thiểu số. Tuy nhiên, những sắp xếp để cho lợi ích của thiểu số có tầm quan trọng quá mức khi bỏ phiếu có thể làm trở ngại yếu tố chính yếu bảo đảm sự hậu thuẫn của các người được cai trị: đó là ban hành các luật lệ phản ánh ý nguyện của đa số. Nếu cho thiểu số có tầm quan trọng quá mức thì quan điểm của thiểu số sẽ lấn áp cả đa số hay sẽ làm tê liệt quá trình làm quyết định tới mức chính quyền không làm gì được cả. Điểm thứ năm là bầu cử chỉ có thể hữu hiệu nếu mọi người thấy rằng bầu cử là tự do và công bằng. Vì vậy phải có những thể thức để nhanh chóng đáp ứng nhanh chóng đối với các tố cáo bầu cử gian lận. Nếu không có các thể thức giải quyết như vậy thì hoạt động chính trị theo thể thức đầu phiếu sẽ bị coi là giả dối. Sau hết, bầu cử tự do và công bằng có thể khó duy trì trong một xã hội có bất đồng trầm trọng trong phần lớn dân chúng về những vấn đề tối quan trọng. Đôi khi tình trạng lành mạnh của một hệ thống chính trị có thể đo lường được bằng các vấn đề không nổi bật trong cuộc tranh cử và bằng những các đề nghị không bao giờ được thấy trên lá phiếu. Trước đây một thế kỷ Woodrow Wilson đã đưa ra nhận xét sau đây: “Các định chế dân chủ không bao giờ là hoàn tất. Các định chế đó như các mô sống, luôn luôn sinh động. Cuộc sống của các con người tự do là một cuộc sống rất vất vả.” Cần phải thường xuyên xem xét kỹ lưỡng và sửa đổi. Biết rõ những khiếm khuyết trong một hệ thống bầu cử cũng quan trọng không kém việc trân trọng những giá trị của hệ thống đó.

©Học Viện Công Dân 2006

Tài liệu đọc thêm

Mark E. Bush, Does Redistricting Make a Difference? Partisan Representation and Electoral Behavior (Johns Hopkins University Press, 1993)[Giới hạn có hiệu quả gì không? Đại diện các Chính đảng và các hành động của cử tri]

Marchette Gaylord Chute, The First Liberty: A History of the Right to Vote in America, 1619-1850 (Button, 1969) [Tự do thứ Nhất: Lịch sử quyền đi bầu tại Mỹ, 1619-1850]

William Gillette, The Right to Vote: Politics and Passage of the Fifteenth Amendment (Johns Hopkins University Press, 1965) [Quyền bỏ phiếu: Chính trị và việc thông qua bản Tu chính thứ 5]

Samuel Huntington, The Third Wave: Democratization In The Late Twentieth Century (University of Oklahoma Press, 1993)[Đợt thứ 3: Dân chủ hoá vào cuối thế kỷ 20]

Bernard Grofman and Arend Lijphant, eds. Electoral Laws and Their Political Consequences (Agathon Press, 1986) [Luật bầu cử và các hậu quả chính trị]

Alexander Keysser, The Right to Vote: The Contested History of Democracy in the United States (Basic Books, 2000)[ Quyền bỏ phiếu:Tranh luận về lịch sử dân chủ tại Mỹ]

Harold Porter Kirk, A History of Suffrage in the United States (AMS Press, 1971)[ Lịch sử về quyền đi bầu tại Mỹ]

Donald W. Rogers, ed. Voting and the Spirit of American Democracy: Essays on the History of Voting and Voting Rights in America (University of Illinois Press, 1992) [Đi bầu và tinh thần dân chủ Mỹ: tiểu luận về lịch sử đi bầu và quyền đi bầu tại Mỹ]

Tác giả

D. Grier Stephenson, Jr. là giáo sư bộ môn chính trị (Charles A. Dana Professor of Government) tại Franklin & Marshall College. Ông phụ trách các môn chính trị Mỹ, toà Tối cao,và luật hiến pháp.Ông viết nhiều tác phẩm trong đó có các tác phẩm như Campaigns and the Court: The U.S. Supreme Court in Presidential Elections [Các cuộc tranh cử và tòa án, Tòa Tối cao và cá cuộc bầu cử tổng thống tại Mỹ]. Ông cũng là đồng tác giả (với Alpheus Thomas Mason) cuốn American Constitutional Law: Introductory Essays and Selected Cases [Luật hiến pháp Mỹ: Các tiểu luận nhập môn và một vài trường hợp điển hình].

Học triết kiểu Mỹ

TTO – Mỗi tháng vài lần, học sinh tiểu học ở Trường Springfield (bang Massachusetts, Mỹ) được giải phóng khỏi các môn thường nhật để tranh luận về… triết học. Nhưng các em không hề nói đến những tư tưởng danh tiếng như Hegel hay Descartes ở đây.

Thay vào đó, giáo sư Thomas E. Wartenberg và các sinh viên tình nguyện đến từ Đại học Mount Holyoke lại đưa cho các em những câu hỏi triết lý kinh điển để học sinh tự mổ xẻ vấn đề giống như khi các nhà triết học vĩ đại suy tư tìm ra chân lý.

 Vào một buổi chiều, học sinh của cô Christina Runquist đọc câu chuyện Giving Tree của tác giả Shel Silverstein. Câu chuyện kể về một cái cây lần lượt từ bỏ bóng mát, quả, cành và cuối cùng là thân cho một cậu bé mà nó kết bạn. Những câu hỏi được đặt ra để hướng học sinh thảo luận theo chủ đề bảo vệ môi trường, cách đối xử với thiên nhiên.

Phần lớn triết gia nhí này không gặp khó khăn với việc cậu bé sử dụng bóng mát của cái cây. Nhưng khi cậu ta xẻ cây táo ra và bán quả, bán cành rồi dùng thân cây để xây nhà và đóng thuyền thì tranh luận nổ ra.

“Đó chỉ là cái cây mà thôi”, Justin nhún vai nói.

“Nhưng cái cây cũng có cảm giác chứ”, Keyshawn phản đối.

“Nếu cậu ta lấy cả thân cây thì nó không sống được tiếp nữa – Nyasia tiếp lời – Với lại, cậu bé và cái cây là bạn của nhau”.

“Thế thì ai hãy nói cho tớ biết làm thế nào người và đá kết bạn đi – Isaiah lý luận lại – Vì đá không di chuyển được, nó không thể nhìn ngó xung quanh. Chúng ta có cách xử sự khác nhau giữa đồ vật và con người”.

Lập luận này làm cả lớp lặng đi một lúc để tìm lý lẽ thuyết phục hơn.

“Ngay từ đầu chúng tôi không thuyết phục các em tôn trọng những cái cây. Chúng tôi chỉ hỏi các em nghĩ gì. Điều đó giúp học sinh tham gia vào hoạt động tư duy triết học một cách tự nhiên, không gò ép. Chúng tôi không dạy các em những kết luận của các nhà triết họ mà hướng các em theo cách tư duy rộng mở và sâu xa như họ” – Giáo sư Wartenberg

Giáo sư Wartenberg đến thăm Trường Springfield từ năm 2007 để đổi mới cách dạy tư tưởng triết học. Ông nhận thấy nhiều giáo viên cố gắng đưa các tư tưởng đến học sinh dưới dạng nguyên tắc, kết luận, tiên đề, định lý và bắt các em ghi nhớ. “Điều đó thật khủng khiếp. Bản thân ai cũng thích những ý tưởng triết học bởi chúng là các câu hỏi cơ bản nhất về thế giới, nên chúng ta cần khơi gợi niềm yêu thích đó trong học sinh”, ông lập luận.

Wartenberg chỉ là một trong nhiều giáo sư triết học suy tư về cách dạy trẻ em. Từ những năm 1970, Matthew Lipman, lúc đó là giáo sư ở Đại học Columbia, đã nhận thấy trẻ em có thể suy nghĩ trừu tượng khi còn rất nhỏ và những câu hỏi triết lý có thể giúp các em phát triển kỹ năng này.

Quan điểm của Lipman là nhằm phản bác kết luận của học giả Jean Piaget về quá trình phát triển của trẻ em. Piaget khẳng định trẻ dưới 12 tuổi chưa thể suy nghĩ trừu tượng nhưng Lipman, và giáo sư Gareth Matthews đến từ Đại học Massachusetts khẳng định lại sự tò mò và lòng trắc ẩn của con trẻ sẽ giúp các em tìm được câu trả lời cho nhiều vấn đề triết học.

Giáo sư Matthews giải thích: “Thế giới đối với các em rất mới lạ và trẻ muốn hình dung mọi thứ. Trẻ nhỏ rất hay tư duy như các triết gia nhưng thường thì cha mẹ và giáo viên không khuyến khích các em tiếp tục. Họ chỉ nói: ‘Ồ, bé mà cũng giỏi nhỉ’ nhưng rồi không hướng dẫn con em mình tiếp tục suy nghĩ sâu xa hơn về vấn đề”.

Có một điều thú vị mà các giáo sư chỉ ra là nền giáo dục hiện nay chỉ chăm chú dạy các em về những chuẩn mực và tính hiệu quả để hoàn thành bài tập, trong khi đó cuộc sống đầy những thách đố và rối loạn. “Chúng tôi muốn giúp trẻ sử dụng tư duy của mình để sống thoải mái trong sự hỗn loạn đó, để biết phân tích và thích nghi – giáo sư Wartenberg nói – Các em sẽ trả lời những câu hỏi như tại sao – tại sao không, có đồng ý hay không đồng ý nhưng phải biết tôn trọng ý kiến của người khác”.

PHAN ANH (Theo New York Times)

Down Load Sách Hay

Để Down load Sách hoặc Phần mềm, Quý Độc giả kích đúp chuột vào
Thư mục cần down load -> file để tải tài liệu về.

Vodpod videos no longer available.

more about “Box“, posted with vodpod

 

Đọc Sách Trực Tuyến

Quý Bạn đọc có thể kích vào nút Fullscreen để phóng to khung hình lên cho dễ đọc. Xin cảm ơn.

Quà Tặng Vô Giá

Mỹ bỏ kỳ thi “2 trong 1”

Chính quyền Tổng thống Barack Obama quyết định dành một khoản tiền khổng lồ để cải tổ hệ thống giáo dục, trong đó có việc loại bỏ chương trình thi trắc nghiệm theo đề thi quốc gia thống nhất để xét tốt nghiệp và xét tuyển vào đại học, cao đẳng.

Ngày 27/1, Tổng thống Barack Obama đọc thông điệp liên bang đầu tiên trong nhiệm kỳ tổng thống của ông trước Quốc hội Mỹ.

Theo kế hoạch, ngân sách giáo dục của Mỹ sẽ tăng 6,2% và số tiền bổ sung này sẽ được chi đều cho toàn bộ hệ thống giáo dục từ tiểu học đến đại học.

Đặc biệt, chính quyền Obama dành 4,35 tỷ USD trong gói kích cầu trị giá 787 tỷ USD để loại bỏ chương trình thi trắc nghiệm theo kiểu 2 trong 1 (đề thi quốc gia thống nhất xét tốt nghiệp và xét tuyển vào đại học, cao đẳng) vốn được thực hiện rộng rãi dưới thời Tổng thống George W.Bush.

Hơn 10 năm nay, hệ thống thi theo kiểu 2 trong 1 được coi là bệnh nan y của nền giáo dục Mỹ. Theo các chuyên gia, với hệ thống thi cử như vậy, giáo dục phổ thông của Mỹ không biết đi về đâu.

 
Mỹ đã phải nói không với kỳ thi “2 trong 1”

Trong buổi tiếp các giáo viên được trao giải thưởng vì thành tích xuất sắc trong giảng dạy tại Nhà trắng mới đây, Tổng thống Obama cảnh báo Mỹ đang phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu về giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông. Theo kết quả điều tra mới đây, học sinh ở độ tuổi 15 của Mỹ chỉ xếp thứ 21 về khoa học và 25 về toán học.

Thứ sáu tuần trước, trong buổi lễ ra mắt bộ phim Chờ đợi siêu nhân, bộ phim tài liệu nói về thực trạng giáo dục của Mỹ hiện nay, người sáng lập tập đoàn Microsoft Bill Gates phát biểu: “Chất lượng hệ thống giáo dục đã từng là niềm tự hào của nước Mỹ. Nhưng giờ đây, nó không còn được tốt như thế nữa”.

Cuộc đua đến đỉnh cao

Trong chương trình cải cách giáo dục của mình, Tổng thống Obama phát động cuộc đua đến đỉnh cao ở 48 bang với mục đích tìm ra một đề án cải cách giáo dục hoàn hảo.

Hệ thống giáo dục ở Mỹ không thống nhất mà phụ thuộc vào chính sách của từng bang. Mỗi bang có một bộ luật về giáo dục riêng, do đó các môn được giảng dạy trong trường phổ thông ở từng bang cũng khác nhau. Như vậy, chất lượng giáo dục của các trường phổ thông (tiểu học và trung học) ở Mỹ rất khác nhau.

Trong bối cảnh ấy, chính quyền Obama chủ trương tiến hành một kỳ thi thống nhất đối với tất cả các trường phổ thông trên lãnh thổ Mỹ, có điều, kết quả của kỳ thi này không phục vụ cho việc xét tuyển vào đại học. Kết quả kỳ thi này được coi là chỉ số chất lượng giáo dục và là cơ sở để phân bổ ngân sách giáo dục.

Đề án cải cách giáo dục, nhất là cải tổ hệ thống thi cử của chính quyền Obama vấp phải phản kháng từ một số bang ở Mỹ. Người ta cho rằng nhà nước đã can thiệp thô bạo vào quyền tự quyết truyền thống của các địa phương.

Tuy nhiên, mục đích không cho phép nền giáo dục ở Mỹ tụt hậu đã thúc ép chính quyền Obama phải có những biện pháp kiên quyết và việc nói không với kỳ thi 2 trong 1.

(Theo Duy Long – Báo Tiền Phong)