Phúc lợi xã hội trong “cơ chế thị trường”

Phan Trọng Hiền

(TBKTSG) – Ở nước ta hiện nay, dường như đang có một sự nhầm lẫn khá phổ biến về quy chuẩn của một xã hội có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Đại khái là cái gì cũng phải theo “giá thị trường”, Nhà nước không “bao cấp” nữa, kể cả trong lĩnh vực giáo dục và y tế (!).

Mới đây dự thảo điều chỉnh (tăng) viện phí do Bộ Y tế đưa ra đã bị tuyệt đại đa số người dân phản đối. Lý do đầu tiên: mức tăng quá cao (khoảng 350 dịch vụ y tế tăng giá từ 2,5 lần đến 66,6 lần), trong khi đại đa số bệnh nhân không thể kham nổi! Mặt khác, ngành y tế giải thích cần phải tăng viện phí để “giảm bớt bao cấp” do “ngân sách nhà nước eo hẹp” và “khung giá cũ không còn phù hợp”… Các lý do trên hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Lâu nay, nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước tư bản phát triển đều coi giáo dục và y tế là các lĩnh vực hoạt động mang tính phúc lợi công cộng, là thước đo để đánh giá mức độ phát triển của mỗi quốc gia. Hầu như không nước nào coi giáo dục, y tế là hoạt động kinh doanh phải tính đến lời, lỗ; coi nghĩa vụ phải chi tiền cho giáo dục, y tế của nhà nước là “bao cấp” cần phải xóa bỏ như một số suy nghĩ thực dụng và sai lầm ở nước ta.

Cụ thể, chỉ riêng trong lĩnh vực y tế, “người Nhật được hưởng chế độ chăm sóc y tế cao nhất thế giới. Các cơ sở y tế có chất lượng rất tốt. Các doanh nghiệp có trách nhiệm trợ cấp dịch vụ bảo hiểm cho nhân viên”. Còn ở Singapore, “cơ sở và các dịch vụ y tế đều rất tốt. Chính phủ trợ cấp mọi nhu cầu chăm sóc y tế cơ bản”. Trong khi ở Hàn Quốc, “mọi người dân đều được chăm sóc y tế đầy đủ, nhất là những phụ nữ đang mang thai và sinh nở” (theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Dương, “Tìm hiểu các nước trên thế giới”, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 2004).

Tóm lại, cơ chế thị trường không mâu thuẫn với phúc lợi xã hội mà ngược lại, cơ chế thị trường càng hoàn thiện, nhà nước càng có điều kiện thực hiện, chăm lo phúc lợi xã hội cho toàn dân tốt hơn. Hạn chế, cắt giảm phúc lợi xã hội đến mức thấp nhất không phải là bản chất của một thể chế “của dân, do dân và vì dân” như chúng ta vẫn khẳng định!

Cầu “ảo” đẩy giá nhà lên quá cao

 
 

(TBKTSG Online) – Một trong những nguyên nhân chính khiến cho giá nhà đất tại Hà Nội tăng quá cao trong thời gian qua là do cầu ảo và việc “làm giá” của giới đầu cơ. Tìm các giải pháp để lành mạnh hóa thị trường bất động sản là nội dung được thảo luận tại diễn đàn “Phát triển thị trường bất động sản Hà Nội” diễn ra sáng 27-7 tại Hà Nội.

“Ở Hà Nội bây giờ không kiếm nổi căn hộ có giá dưới 20 triệu đồng/mét vuông. Nhà tái định cư cũng phải trên 20 triệu đồng/mét vuông”, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam chia sẻ như vậy tại diễn đàn do báo Diễn đàn Doanh nghiệp, Viện Kiến trúc- Quy hoạch đô thị và nông thôn (Bộ Xây dựng) và Hiệp hội Bất động sản Việt Nam phối hợp tổ chức.

Ông Nam cho rằng, người dân Hà Nội có nhu cầu mua nhà ở phân khúc giá trung bình để ở rất khó tìm được căn nhà ưng ý, bởi giá trên thị trường thường bị đội lên quá cao so với giá trị thực.

Trong khi đó, ông Nam cũng nhìn thấy một số dự án căn hộ cao cấp có giá xấp xỉ 1.000 đô la Mỹ/mét vuông đã gặp khó khăn hơn trong việc tìm người mua chứ không dễ dàng như trước.

Hơn nữa, trái với suy nghĩ của nhiều người, dân số Hà Nội hiện nay đã tăng lên đến gần 7 triệu người và có tới hàng trăm ngàn người dân thủ đô đang phải sinh sống trong những căn nhà với diện tích trung bình chỉ 5 mét vuông/đầu người.

Như vậy, bài toán đặt ra là trong số 7 triệu dân Hà Nội còn rất nhiều gia đình có nhu cầu thực sự mua nhà mới để ở nhưng không mua nổi do giá quá cao.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất ít người có thể mua một căn hộ chung cư sát với giá trị thực của nó trừ phi có “quan hệ” với chủ đầu tư, vì giá bán đã bị đẩy lên thông qua nhiều “cầu” khác nhau.

Nhận định về vấn đề này, một chuyên gia bất động sản nói với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trong một lần trò chuyện rằng ông không thể tưởng tượng giá nhà đất tại Hà Nội lại cao đến mức phi lý như thế, đặc biệt trong thời điểm vừa qua thị trường lên cơn sốt mà rất nhiều người vẫn đổ xô đi mua đất.

Vị chuyên gia cho rằng, “sốt” không phải do nhu cầu thực của người dân muốn mua nhà để ở, mà là do nhu cầu ảo của một bộ phận dân chúng, nhà đầu tư và đặc biệt là dân đầu cơ cùng tạo nên.

Việc “lướt sóng”, đầu cơ kiếm chênh lệch của nhiều người đã góp phần đẩy giá bất động sản lên rất cao và điều này gây ra hiệu ứng tâm lý không tốt cho thị trường.

Ông Nguyễn Khắc Thọ, Phó giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội, cũng đồng tình với quan điểm trên và cho rằng những vấn đề trên chính là nguyên nhân gây biến động thị trường bất động sản Hà Nội trong những năm gần đây.

“Việc đầu cơ, kích giá, “làm giá” ảo của giới đầu cơ, tâm lý mua bán theo tin đồn, tâm lý đám đông của các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng là một trong những nguyên nhân để đẩy giá bất động sản lên cao”, ông Thọ phát biểu tại diễn đàn.

Ngoài ra, theo ông Thọ, một nguyên nhân chính khác là nhu cầu về bất động sản nhà ở, các công trình hạ tầng xã hội, dịch vụ thương mại, văn phòng, khách sạn tại Hà Nội rất lớn, trong khi đó nguồn cung của thị trường lại không đủ đáp ứng, nhất là nhu cầu về nhà ở.

“Trong khoảng hai năm trở lại đây ít có khu đô thị mới quy mô lớn nào được triển khai trên địa bàn thành phố do quy hoạch thủ đô chưa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, một số chậm triển khai do vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Cung không đủ cầu dẫn đến giá tăng”, ông Thọ nói.

Tính minh bạch của thị trường địa ốc Hà Nội trong tất cả các khâu, theo đánh giá của Sở Xây dựng Hà Nội, từ hoạt động đầu tư, tạo lập bất động sản đến hoạt động giao dịch mua, bán, chuyển nhượng, cho thuê bất động sản còn nhiều hạn chế.

Theo ông Nguyễn Văn Minh, Tổng thư ký Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, muốn nâng cao tính lành mạnh cho thị trường bất động sản Hà Nội thì ưu tiên hàng đầu là cần tập trung hoàn chỉnh quy hoạch chung Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 để trình cơ quan thẩm quyền phê duyệt.

Ngoài ra, cần xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015, 2020 và 2030 để tổ chức thực hiện.

Ông Minh đề xuất phải có phương án hoàn chỉnh và phê duyệt đề án quản lý và phát triển thị trường bất động sản trên địa bàn Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050 nhằm xây dựng một lộ trình tổng thể cho việc quản lý và phát triển thị trường bất động sản trên thành phố, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân đầu tư kinh doanh bất động sản, giao dịch, mua bán một cách minh bạch theo quy định của pháp luật.

(Thành Trung-TBKTSG)

Liệu Việt Nam đã tính đúng và đủ nợ công?

 
Vũ Quang Việt

(TBKTSG) – Báo cáo nợ của Hy Lạp xem ra không phản ánh sự thật, đã khiến thị trường tài chính mất niềm tin. Hy Lạp do đó đang gặp khó khăn trong việc bán trái phiếu chính phủ nhằm mượn tiền trên thị trường tài chính thế giới, và giới tài chính cũng đâm nghi ngờ các nước có nợ công cao ở châu Âu. Vậy nợ công là gì? Và nợ công ở Hy Lạp như thế nào? Tại sao thị trường lại phản ứng như thế?

Nợ công là gì?

Trước khi định nghĩa nợ công, ta hãy định nghĩa khu vực công. Khu vực công bao gồm khu vực nhà nước (gồm cả trung ương và địa phương) và doanh nghiệp quốc doanh. Doanh nghiệp quốc doanh là doanh nghiệp mà nhà nước chi phối hoặc chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối và do đó thường vì áp lực chính trị phải chịu trách nhiệm về nợ nần của chúng.

 

Nợ là một phần của tổng tiêu sản mà người mượn phải trả, hoặc là trả vốn hoặc trả cả vốn và lãi, hoặc bằng hàng hóa và dịch vụ cho người cho mượn ở một hay nhiều thời điểm trong tương lai. Nợ như vậy bao gồm: i) nợ vay như nợ ngân hàng, ii) nợ qua việc bán trái phiếu, iii) tiền trả trước của khách hàng, iv) bổn phận phải chi trả khác (thí dụ nhà nước nợ công chức tiền hưu trí hứa hẹn sau khi về hưu). Nợ như vậy không bao gồm cổ phiếu hay phần hùn, thí dụ cổ phiếu hoặc phần hùn do công ty phát hành không phải là nợ của công ty đó với người sở hữu cổ phiếu hoặc phần hùn. Trong trường hợp chính phủ bảo lãnh nợ, thì chỉ ghi thành nợ chính phủ khi chính phủ phải thực hiện việc trả nợ.

Nợ công theo định nghĩa như trên là rộng hơn so với nợ nhà nước. Các tổ chức quốc tế hiện nay khuyến khích các nước tính toán và theo dõi nợ công, chứ không chỉ nợ nhà nước. Tại sao thế? Lý do là vì nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, có khu vực quốc doanh lớn. Về nguyên tắc luật pháp, trong trường hợp quốc doanh hay tư doanh đã được chấp nhận là công ty trách nhiệm hữu hạn, thì khi phá sản, người chủ sở hữu không chịu trách nhiệm gì về nợ nần của các công ty này ngoài tài sản đã góp. Thực tế khác hẳn. Thứ nhất, nhiều công ty quốc doanh không phải là công ty trách nhiệm hữu hạn. Thứ hai, dù là công ty trách nhiệm hữu hạn, về mặt chính trị, nhà nước không thể thoái thác trách nhiệm nợ.

Số liệu nợ mà Bộ Tài chính Việt Nam phổ biến hiện nay là nợ nhà nước chứ không phải là nợ công. Nợ công chắc sẽ lớn hơn nhiều.

Bảng nợ nhà nước cho thấy nợ của các nước năm 2009 (bảng 2). Bảng này cho thấy nợ của Việt Nam cao hơn tỷ lệ đưa ra, sự khác biệt có thể là phương pháp tính, nhưng con số Việt Nam đưa ra thì khá thấp (xem biểu đồ 1). Năm 2007, nợ của Nhà nước là 33,8% GDP, nhưng nợ nước ngoài (chủ yếu là nợ nhà nước) theo IMF đã là 43,3% GDP và nếu cộng thêm hơn 7% nợ của Chính phủ do phát hành trái phiếu thì tổng số nợ đã lên 50% vào năm 2007. Như vậy con số của CIA tính ở mức 52% cho năm 2009 có thể vẫn là thấp so với thực tế.

Nợ công còn có phần lương hưu

 

Tuy nhiên, có thể nói cách tính của Việt Nam về nợ của chính phủ cũng chưa phản ánh một phần quan trọng khác: đó là nợ phải trả trong tương lai khi công chức về hưu. Phần này có thể rất lớn, thí dụ như ở Singapore nó lên tới 50% GDP. Theo nguyên tắc tính nợ theo tiêu chuẩn quốc tế, thì mỗi khi một công chức nhận lương, họ phải đóng vào quỹ về hưu, còn một phần khác, có thể bằng hoặc gấp đôi, chính phủ phải đóng vào quỹ này. Nhiều nước, không thiết lập ra quỹ này, mà đem chi hết, như thế nhà nước hàng năm cứ lấy tiền ngân sách ra chi trả và quên đi cái quỹ kia. Nguyên tắc là phải tính và cái quỹ đó chính là nợ của nhà nước với công chức (bao gồm công chức, giáo viên và nhân viên y tế trong khu vực công, quân đội, cảnh sát, và có thể cả những người làm việc cho doanh nghiệp nhà nước). Phần nhà nước đóng góp đáng lẽ phải có (dù không đóng) vẫn phải tính vào chi tiêu. Trong trường hợp dựa vào hợp đồng đã ký về hưu trí, nếu đóng góp không đủ để chi trả trong tương lai thì phải tính vào nợ.

Các nước đang phát triển, theo tôi biết, đã không ghi đúng đắn như trên, trong đó tất nhiên có Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Philippines và Thái Lan. Trong các nước châu Á thì Singapore đã ghi theo đúng chuẩn mực và vì thế tỷ lệ nợ của họ rất cao, xếp hàng thứ 6 thế giới (xem bảng 2).

Hầu hết các nước phát triển trong đó có Mỹ, Canada, Úc, Nhật và các nước trong khối Liên hiệp châu Âu (EU) đã tính nợ theo đúng tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc. Ở EU, việc tính này đã thành luật. Đó là lý do các nước này đều có tỷ lệ nợ trên GDP cao hơn 50% nhiều. Tỷ lệ trên 100% đối với các nước này là bắt đầu vượt ngưỡng an toàn. Còn đối với các nước đang phát triển, khi không tính nợ hưu trí thì có lẽ là 50% (tất nhiên là tùy từng nước, tùy theo nước đó có chính sách hưu trí cho công chức không và tỷ lệ nằm trong diện công chức lớn như thế nào). Ở các nước phát triển, tỷ lệ nợ công có thể bằng hoặc gần bằng với tỷ lệ nợ nhà nước vì khu vực quốc doanh không đáng kể, và do đó họ vẫn chỉ tập trung vào nợ nhà nước.

Vấn đề nợ của Hy Lạp

Số liệu trong bảng cho thấy Hy Lạp có vấn đề nợ, tỷ lệ nợ lên đến 113% GDP. Tỷ lệ nợ này còn thấp hơn Ý và Nhật. Vậy tại sao Hy Lạp lại có vấn đề trên thị trường tài chính thế giới mà các nước kia không có?

Câu trả lời là sự giả dối trong việc làm thống kê của Hy Lạp đã làm thị trường tài chính thế giới mất niềm tin vì thế mà gặp khó khăn vay mượn trả nợ, cũng như thực hiện các công trình nhà nước khác. Ngay khi Hy Lạp muốn gia nhập EU thì nước này đã có khuynh hướng cố làm thấp tỷ lệ thiếu hụt ngân sách. Thí dụ ngân sách năm 2001 lúc đầu thì họ báo là thiếu hụt 3,6% nhưng thực ra là 6,1% (dựa vào tài liệu của cơ quan thống kê EU). Thiếu hụt năm 2008, theo con số được công bố vào tháng 4-2009 là 5%, nhưng sau đó vào tháng 10-2009 được báo lại là 7,7% và theo như thông tin mới nhất thì thiếu hụt có thể lên đến 14%.

Có nhiều lý do tạo ra vấn đề này. Những lý do có thể kể là i) không ghi chi trả tiền về hưu đúng như đã giải thích ở trên, ii) giấu không ghi chi phí việc mua vũ khí quốc phòng, iii) không ghi vào nợ khi nhà nước phải gánh nợ tư vì bảo lãnh, iv) ghi tiền nhà nước chuyển cho doanh nghiệp quốc doanh để bù lỗ là tăng đầu tư mua cổ phần, thay vì là chi bù lỗ, nhằm làm giảm thiếu hụt ngân sách (thường xuyên), v) ghi thuế thu không theo thực thu và theo dự báo. Và tin mới nhất là coi một loại thuế nào thu được trong tương lai là thu nhập để vay, điều không được chấp nhận trong việc làm thống kê.

Như vậy, vấn đề là chính việc Hy Lạp thiếu minh bạch đã tạo ra sự mất niềm tin. Một số người có thể chỉ trích cơ quan thống kê đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình, tức là bảo đảm tính khách quan và chuyên nghiệp của nhà thống kê. Có thể là cơ quan thống kê Hy Lạp bị chính trị ảnh hưởng, nhưng sự thật là trong bất cứ một nước nào, chi tiêu tài chính trong ngân sách là trách nhiệm của Bộ Tài chính. Khi Bộ Tài chính cố tình gian dối thì những người làm thống kê khó lòng khám phá ra. Ở Hy Lạp cơ quan kiểm toán lại thuộc Bộ Tài chính thì khả năng kiểm tra của thống kê là rất nhỏ.

Bài học cho Việt Nam

Tổng cục Thống kê không còn hoàn toàn độc lập (ít nhất là trên danh nghĩa) như trước kia, mà được đặt dưới quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thống kê tài chính hoàn toàn do Bộ Tài chính làm (thống kê ngân hàng và thanh toán với nước ngoài cũng thế). Và cho đến nay Tổng cục Thống kê không được giao, hoặc chưa làm nhiệm vụ tổng hợp tất cả thống kê vào một hệ thống, đó là hệ thống tài khoản quốc gia, do đó không có cách gì thấy được hết các mâu thuẫn trong thống kê. Việc tổng hợp có thể chỉ ra các mâu thuẫn này.

Thống kê tài chính Việt Nam hiện nay vẫn chỉ tập trung vào nợ nhà nước, nên cũng khó lòng cho thấy toàn cảnh vấn đề tài chính công vì khu vực doanh nghiệp nhà nước rất lớn và nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm nợ nần với khu vực này. Đây không phải là vấn đề của nhiều nước châu Á khác, do đó việc so sánh giữa Việt Nam với Thái Lan hoặc Malaysia chẳng hạn là không đúng đắn về mặt nợ công.

Suy thoái kinh tế toàn cầu hay cuộc chiến các cường quốc?

Hồ Hải – Tạp chí Tia Sáng

 Tuần này bộ sậu nước Mỹ gồm nhân vật thứ hai Nhà trắng – bà Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton – và ông Bộ trưởng Tài chính Mỹ – Timothy Geithner – tháp tùng công du 3 nước châu Á: Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc, với chủ đề đàm phán về an ninh và kinh tế Mỹ – Trung, trong đó vấn đề Bắc Hàn đứng đầu nghị trình. Sau khi nhậm chức Tổng thống nước Mỹ, ông Barack Obama đã có hai chuyến công du sang đối tác Trung Quốc trong hai năm 2009, 2010. Mọi nỗ lực đàm phán kinh tế theo quan điểm cấp tiến, hiền hòa của Đảng Dân chủ của ông Obama đều không mang lại kết quả tốt đẹp trong việc kêu gọi Trung Quốc tăng giá đồng Nhân dân tệ (NDT), nguyên nhân mà người Mỹ và cả thế giới cho rằng chính nó đã làm nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008. Mặc dù những tháng gần đây, người Trung Quốc đồng ý sẽ tăng giá đồng NDT. Nhưng vẫn chưa thấy bất kỳ động tĩnh nào là họ sẽ thực thi

Và ngày 25/5/2010, ông Hồ Cẩm Đào vẫn phát biểu: “Trung Quốc sẽ điều chỉnh chính sách tiền tệ, nhưng theo chính sách của Trung Quốc chứ không theo bất kỳ áp lực nào”. Vấn đề đặt ra là tại sao 3 năm nay kể từ giữa cuối năm 2007, căn bệnh mãn tính khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu tái diễn từ nước Mỹ, chính sự sụp đổ của các tập đoàn tài chính mà cách đây chỉ 7 năm thôi chúng là nơi thu hút đầu tư mạnh nhất trên thế giới. Và chúng đã lan rộng trên toàn thế giới, nhưng người Trung Quốc vẫn khăng khăng từ chối nâng giá đồng NDT mà “thế giới còn lại” cho là nguyên nhân mọi khủng hoảng. Họ cho rằng trong 4 năm qua người Mỹ đã cho giảm giá đến 15% đồng USD, sao không gọi đó là nguyên nhân khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sao cả thế giới không lên tiếng, lại cho là chính sách giữ giá đồng NDT thấp của họ là nguyên nhân cơ bản làm mất cân đối ngân sách các nước trên thế giới? Nhưng đến lúc này ông Hồ Cẩm Đào lại đồng ý điều chỉnh chính sách tiền tệ và vẫn còn để lửng khi nào thay đổi và thay đổi ra sao, có gì nằm sau cuộc khủng hoảng này?

     Nhìn lại quá khứ và nguyên nhân khủng hoảng
     Các nhà chiến lược kinh tế cho rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu là một qui luật có tính chu kỳ như một biểu đồ hình sin. Cứ thế lập đi lập lại không bao giờ dứt. Cho đến nay đã có 8 cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã diễn ra vào các thập niên 1930, 1940, 1950 có 2 cuộc vào năm 1953 và 1958, 1970, 1980, 1990 và 2000. Nhưng nguyên nhân là do mất cân đối toàn cầu về mức độ thặng dư thương mại khổng lồ giữa các quốc gia tạo ra.
    Các nhà kinh doanh làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng lại cho rằng nguyên nhân khủng hoảng là do thiếu năng lực quản lý hệ thống tài chính. Còn việc mất cân cối thặng dư thương mại giữa các nước chỉ là giọt nước làm tràn ly mà thôi.
    Thế nhưng các nhà theo trường phái thuyết âm mưu (Conspiracy theory) thì cho rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế là bắt nguồn từ lòng tham của con người mà gây ra. Và lòng tham đó đã được các nhà tài phiệt tận dụng một cách triệt để, để vơ vét và làm giàu cho tập đoàn của mình. Họ chủ động kích cầu lòng tham của “thế giới còn lại” bằng giấc mơ ảo từ tín phiếu, từ cổ đông, từ bất động sản… Họ nâng giá bằng những đợt kích giá trên thị trường chứng khoán. Họ cho vay một cách dễ dàng những đồng vốn kếch sù họ có. Đến khi chiếc bong bóng họ thổi đã đến đỉnh điểm, họ bắt đầu châm kim bằng những đợt thắt chặt hầu bao cho vay và nâng giá lãi suất. Làn sóng vỡ nợ gia tăng và các con nợ phá sản, thất nghiệp gia tăng, “của Cesar lại trả về Cesar” bằng phương án xiết nợ, người tiêu dùng trắng tay. 

     Những cuộc tranh cãi và gây sức ép
     Chủ xướng của các nước có nền kinh tế đã phát triển cao như Mỹ và châu Âu là dựa vào lý do các nhà chiến lược đưa ra, để gây sức ép với các nước đang phát triển vì các nước này chủ trương một đồng tiền yếu phục vụ cho xuất khẩu, làm thâm thủng những khối lượng khổng lồ về nhập siêu của các nước đã phát triển dẫn đến mất cân bằng thặng dư thương mại.
     Trong khi đó, chủ trương của những nhà quản lý tài chính toàn cầu như IMF lại cho rằng các nước có thâm thủng thương mại cần siết chặt quản lý tín dụng ngân sách nước mình. Buông lỏng quản lý tài chính hay là chết?
     Đối với các nhà theo thuyết âm mưu thì các Nhà nước cần phải chặt bàn tay lông lá vô hình của các quyền lợi nhóm, để giảm thiểu lòng tham và những cơn sóng thổi phồng thị trường trong nước.
     Ai cũng có lý, và ai cũng đưa ra lý lẽ cho riêng mình mà chưa ai có thể thắng ai. Song điều cho thấy rõ ràng nhất trong cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu lần này đã dẫn đến những hệ lụy như sau:
     + Các nước chủ trương một nền kinh tế dựa chủ yếu vào xuất khẩu, đại diện là Trung Quốc đã vướng vào thế “lưỡng đầu thọ địch”. Một mặt họ bị các nước đã phát triển lên án chính sách đồng tiền NDT neo ở giá thấp. Một làn sóng vận động tẩy chay hàng Trung Quốc trên khắp toàn cầu với chiêu bài hàng Trung Quốc có nhiều độc hại gây chết người. Bắt đầu bằng việc sữa có chất Melamine ở Trung Quốc, rồi sau đó là đồ chơi trẻ em, các loại thức ăn cho trẻ em như kẹo bánh rồi đến cả vải sợi dùng để sản xuất hàng may mặc.
     + Một số chiến dịch tăng giá thuế nhập khẩu vào các nước đã phát triển của những mặt hàng xuất khẩu từ các nước thế giới thứ ba, trong đó có Việt Nam, đã được áp dụng vì lý do họ cho rằng các nước thứ ba đã có chính sách bảo hộ hàng xuất khẩu bằng nhiều cách, trong đó có chính sách phá giá đồng tiền nội địa.
      + Đối với bản thân các nước đã phát triển, chính quyền sở tại đã áp dụng cả 3 lý thuyết đưa ra của các nhà phân tích. Đại diện rõ nhất là Mỹ, chính sách cải tổ quản lý từ y tế đến tài chính đã và đang tiến hành thực thi ráo riết. Bên cạnh đó việc giảm giá đồng USD đã được FED thực hiện liên tục 4 năm qua, và gây áp lực nâng giá đồng NDT của Trung Quốc. Những cuộc phá sản các tổ chức tài chính mà đặc trưng là sự công bố phá sản tổ chức tài chính Lehman Brothers – bắt đầu cho một chuỗi phá sản 73 ngân hàng, tổ chức tín dụng trên đất Mỹ – Tung tiền ra mua lại các tập đoàn bị phá sản và kích cầu kinh tế. Chính sách thắt lưng buộc bụng trên toàn nước Mỹ, nơi tiêu dùng hơn ½ tổng sản lượng thế giới làm ra, chỉ với một số dân chưa bắng 1/20 của toàn cầu.
     + Đối với cựu lục địa châu Âu, một chính sách đoàn kết để đùm bọc nhau qua cơn hoạn nạn đã và đang xảy ra trên diện rộng. Bên cạnh sự siết chặt quản lý tài chính tiền tệ, tung tiền cứu các nền kinh tế thành viên đang rơi vào sụp đổ, gây áp lực nâng giá đồng NDT Trung Quốc và tăng thuế hàng nhập khẩu từ các nước được cho là có chính sách bảo hộ xuất khẩu hàng tiêu dùng thông qua sự phá giá đồng tiền.
     + Thế giới bắt đầu thủ thế với những biến động do suy thoái kinh tế toàn cầu gây ra. Những mặt hàng có tính sát sườn đã được các nhà đầu tư đẩy lên cao ngất chưa từng có trong lịch sử từ trước đến nay. Đã có lúc lương thực, đặc biệt là gạo đã tăng từ 600 đến 1.200 USD/tấn vào cuối tháng 4/2008. Vàng lên đỉnh điểm trên 1.237 USD/ounce vào giữa tháng 5/2010, và dầu hỏa lên trên 118 USD/ thùng vào cuối tháng 4/2008. Chỉ số Dow Jones, đã có lúc rơi từ hơn 12.000 điểm xuống còn dưới 7.000 điểm vào khoảng đầu tháng 3/2009. Sự thao túng thị trường và tạo ra những đợt giá lên xuống đã góp phần không nhỏ cho sức nóng suy thoái kinh tế 2008-2009.
     Tất cả những bối cảnh trên đã tạo ra một hình ảnh thế giới hỗn loạn thời hiện đại. Tất cả nháo nhào, tất cả đều thua thiệt, mất mát. Nhưng cái mất lớn nhất là mất lòng tin. Nó đã mang đến những được mất như thế nào cho tài chính toàn cầu? Ai được, ai mất, ai lợi, ai bị hại? Sẽ có một cái nhìn cụ thể trong kỳ tới.

Đường sắt cao tốc: “Dục tốc bất đạt”!

Tác giả: Vũ Thành Tự Anh

 Để có thể “nhấn nút”, Đại biểu Quốc hội phải biết rõ họ sẽ “nhấn nút” cho vấn đề nào, đồng thời phải có thông tin chính xác và đầy đủ về hiệu quả của dự án đầu tư.

Trong kỳ họp lần này, các đại biểu Quốc hội sẽ phải “nhấn nút” quyết định nhiều vấn đề trọng đại của đất nước. Trong số này có dự án đường sắt cao tốc (ĐSCT) Bắc – Nam với quy mô vốn đầu tư dự kiến lên tới gần 56 tỷ USD – tức là tương đương với 60% GDP và 250% vốn ngân sách của cả nước trong năm 2009. Để có thể “nhấn nút” đúng với tinh thần trách nhiệm của người đại diện cho quyền lợi của nhân dân, ở mức độ tối thiểu, các đại biểu Quốc hội phải biết một cách rõ ràng họ sẽ “nhấn nút” cho vấn đề nào, đồng thời phải có thông tin chính xác và đầy đủ về hiệu quả của dự án đầu tư.

Thông tin có chính xác?

Để đánh giá hiệu quả của dự án, Báo cáo sử dụng tỷ lệ nội hoàn tài chính (FIRR) và tỷ lệ nội hoàn kinh tế (EIRR) là hai chỉ số phản ánh lợi ích tài chính và kinh tế của dự án. Hai chỉ số này khác nhau ở hai điểm cơ bản.

Thứ nhất, nếu như lợi ích tài chính được tính dựa trên giá vé thì lợi ích kinh tế được tính trên cơ sở lợi ích của hành khách khi có đường sắt cao tốc so với trường hợp không có đường sắt cao tốc. Lợi ích này bao gồm lợi ích thu được nhờ tiết kiệm chi phí về thời gian, tiết kiệm chi phí khai thác các phương tiện khác, giảm tai nạn giao thông, và giảm lượng phát thải khí CO2.

Thứ hai, khi tính chi phí vốn, phân tích tài chính sử dụng bình quân gia quyền của các lãi suất thực trả cho vốn huy động từ các nguồn khác nhau, trong khi phân tích kinh tế sử dụng chi phí cơ hội – là suất sinh lợi cao nhất khi dùng vốn đầu tư cho các hoạt động khác.

Bằng cách thay đổi một số giả định liên quan đến chi phí và lợi ích của dự án đầu tư, người ta có thể biến một kết quả không khả quan trở thành khả quan, ít nhất là trên giấy tờ.

Theo Báo cáo đầu tư đường sắt cao tốc Hà Nội – Hồ Chí Minh (gọi tắt là Báo cáo) thì trong tình huống cơ sở, FIRR chỉ đạt 2,4 – 3%, tức là rất thấp so với chi phí vốn. Điều này có nghĩa là nếu đưa dự án vào vận hành thì về mặt tài chính sẽ bị lỗ đáng kể. Về EIRR, kết quả đánh giá cho  tình huống cơ sở như sau:

Bảng 1: Ước lượng tỷ lệ nội hoàn kinh tế – Phương án cơ sở

Chính sách giá vé EIRR (%) Tỷ lệ lợi ích trên chi phí (B/C)
Chính sách giá vé 1 8,9% 0,76
Chính sách giá vé 2 10,6% 0,87
Chính sách giá vé 3 9,5% 0,79

Nguồn: Bảng 10.5-5 trong Báo cáo Đầu tư Xây dựng Công trình (VJC)

Ghi chú:

§         Chính sách giá vé 1: Giai đoạn đầu 50%, thông toàn tuyến bằng 100% giá vé máy bay phổ thông

§         Chính sách giá vé 2: Bằng 50% giá vé máy bay hạng phổ thông

§         Chính sách giá vé 2: Bằng 75% giá vé máy bay hạng phổ thông

Như vậy, trong cả ba phương án giá vé, tỷ lệ nội hoàn kinh tế cao nhất cũng chỉ đạt 10,6%, thấp hơn mức yêu cầu tối thiểu (hay chi phí cơ hội của vốn) là 12%. Hệ quả là đối với cả ba phương án, lợi ích kinh tế thu được thấp hơn chi phí kinh tế phải bỏ ra (tỷ lệ B/C thấp hơn 1).

Tuy nhiên, khi tìm cách đánh giá lại để củng cố tính khả thi về mặt kinh tế của ĐSCT, Báo cáo đã thay đổi một số giả định trong mô hình tính toán, cụ thể là (i) chi phí khai thác và duy tu bảo dưỡng thấp hơn; (ii) tỷ lệ đô thị hóa cao hơn ở các tỉnh, thành phố dọc trên tuyến ĐSCT; và (iii) giá nhiên liệu của vận tải đường bộ và đường hàng không cao hơn. Với những giả định mới này, mà thực chất là ước lượng chi phí thấp đi và lợi ích cao lên, tỷ lệ nội hoàn kinh tế được Báo cáo tính toán lại như sau:

Bảng 2: Ước lượng tỷ lệ nội hoàn kinh tế – Phương án điều chỉnh

Chính sách giá vé EIRR (%) Tỷ lệ lợi ích trên chi phí (B/C)
Chính sách giá vé 1 14,6% 1,19
Chính sách giá vé 2 16,0% 1,36
Chính sách giá vé 3 14,3% 1,18

Nguồn: Bảng 10.5-6 trong Báo cáo Đầu tư Xây dựng Công trình (VJC)

Một mặt, kết quả mới cho thấy tính khả thi kinh tế cao hơn của dự án ĐSCT, cụ thể là tỷ lệ nội hoàn kinh tế có thể lên đến 16% trong phương án giá vé số 2. Mặt khác, kết quả này cho thấy bằng cách thay đổi một số giả định liên quan đến chi phí và lợi ích của dự án đầu tư, người ta có thể biến một kết quả không khả quan trở thành khả quan, ít nhất là trên giấy tờ.

Bên cạnh những sự phóng đại về lợi ích và thu nhỏ chi phí trong phương án điều chỉnh, Báo cáo còn phóng đại nhu cầu hành khách, lợi ích nhờ tiết kiệm thời gian và giảm tai nạn giao thông khi có tàu cao tốc. Đầu tiên hãy xem xét dự báo về nhu cầu, được đo bằng tổng số hành khách nhân với số ki-lô-mét trung bình (viết tắt hk-km). Từ kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống đường sắt cao tốc, trong dài hạn tốc độ tăng hk-km thường dưới 4% và luôn nhỏ hơn một cách đáng kể so với tốc độ tăng GDP (xem Bảng 3).

Bảng 3. Tốc độ tăng trưởng GDP và hk-km của một số nước (1970-2008)

Quốc gia 1970 – 1990 1990 – 2008
Tăng GDP Tăng hk-km Tăng GDP Tăng hk-km
Pháp 3,0% 2,2% 1,8% 1,4%
Đức 2,6% 0,6% 1,7% 3,2%
Ý 3,1% 1,6% 1,3% 0,5%
Nhật 4,2% 1,5% 1,3% 0,2%
Hàn Quốc* 8,0% 5,3% 1,6%
Anh 2,3% 0,4% 2,4% 2,1%
Tây Ban Nha 3,3% 0,6% 2,9% 1,8%

Nguồn: Số liệu GDP từ World Development Indicators, số liệu hk-km từ International Transport Forum

Ghi chú: Số liệu hk-km của Hàn Quốc là cho giai đoạn 1995 – 2008.

Số liệu ở Bảng 3 cho thấy, từ khi lần đầu tiên đưa tuyến đường sắt cao tốc Tokyo – Osaka vào hoạt động vào năm 1964, trong thời gian 20 năm sau đó (từ 1970 – 1990), tốc độ tăng trưởng hk-km của Nhật chỉ là 1,5%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP 4,5% trong cùng thời kỳ. Tương tự như vậy, trong gần 20 năm sau khi đưa đường sắt cao tốc vào vận hành ở Ý (1991) và Tây Ban Nha (1992), tốc độ tăng trưởng hk-km ở hai nước này lần lượt là 0,5 và 1,8%. Ngay ở Đức, một trường hợp đặc biệt với tốc độ tăng hk-km cao hơn tốc độ tăng GDP thì tốc độ tăng hk-km kể từ khi có tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên (1991) cũng chỉ là 3,2%.

Ở Việt Nam, trong giai đoạn 1995 – 2008, tốc độ tăng GDP và hk-km trung bình lần lượt là 7,3% và 6,0%. Thế nhưng theo dự báo của Bộ Giao thông Vận tải, tốc độ tăng hk-km trung bình trong giai đoạn 2008 – 2030 của Việt Nam sẽ lên tới 9 – 10%, cao gấp nhiều lần so với tốc độ tăng hk-km của các nước có đường sắt cao tốc khác, đồng thời cao hơn đáng kể so với khả năng tăng trưởng GDP 7-8% của Việt Nam. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam cho thấy dự báo của Báo cáo về nhu cầu hành khách như vậy là quá lạc quan.

Báo cáo cũng phóng đại quá mức lợi ích nhờ tiết kiệm thời gian của những người chuyển từ các phương thức đi lại khác sang tàu cao tốc bằng cách phóng đại thu nhập trung bình của những người này. Cụ thể là Báo cáo cho rằng vào năm 2008, những người đi xe bus, đường sắt, hay đường thủy trên tuyến Bắc – Nam có thu nhập trung bình là 200 đô-la/tháng, tức là 2.400 đô-la/năm. Điều này mâu thuẫn với thực tế là đa số những người sử dụng các phương tiện này thuộc nhóm thu nhập thấp và trung bình (như lao động di cư từ miền Trung ra Hà Nội hoặc vào TP. HCM chẳng hạn), và vào năm 2008, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam mới xấp xỉ 1.000 đô-la, tức là chỉ bằng 40% mức do Báo cáo đưa ra.

Báo cáo cũng thổi phồng lợi ích thu được do giảm tai nạn giao thông bằng cách phóng đại tỷ lệ giảm tai nạn giao thông đường bộ hàng năm lên tới 20%. Ngay cả khi dự báo quá mức nhu cầu đối với đường sắt cao tốc thì tỷ lệ này vẫn còn quá cao vì trên thực tế, hơn 50% số vụ tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam xảy ra trong đường nội tỉnh hay nội thị. Nhìn vào kinh nghiệm các nước, việc xuất hiện đường sắt cao tốc không nhất thiết đi kèm với giảm tỷ lệ tai nạn, và ngay cả trong trường hợp tỷ lệ tai nạn có giảm thì cũng chỉ ở mức vài phần trăm mỗi năm.

Theo số liệu của Diễn đàn Giao thông Quốc tế, trong giai đoạn 1990 – 2008, số vụ tai nạn đường bộ ở Đức giảm từ 340.000 xuống còn 320.600 vụ (giảm trung bình 0,3%/năm), ở Anh giảm từ 255.000 xuống 176.800 vụ (giảm trung bình 2,2%). Trong khi đó, trong cùng thời kỳ, số vụ tai nạn đường bộ ở Ý lại tăng từ 161.800 lên 219.000 (tăng trung bình 1,7%/năm) và ở Nhật tăng từ 643.100 lên 766.100 (tăng trung bình 1%/năm).

Tất nhiên mỗi quốc gia có hoàn cảnh khác nhau nên tỷ lệ tăng giảm tai nạn giao thông có thể khác nhau. Song việc Báo cáo cho rằng tỷ lệ giảm tai nạn ở Việt Nam có thể gấp 10-20 lần so với các nước khác, hơn nữa lại không phù hợp với thực tế của Việt Nam như trên đã trình bày buộc chúng ta phải đặt câu hỏi về tính chính xác của dự báo trong Báo cáo.

Những ví dụ vừa nêu về sự phóng đại lợi ích, đồng thời thu nhỏ chi phí trong phân tích chi phí – lợi ích của Báo cáo gợi ý rằng các phân tích tài chính và kinh tế của Báo cáo cần được thẩm tra lại một cách thận trọng, để từ đó có được đánh giá chính xác hơn về hiệu quả của dự án.

Thông tin có đầy đủ?

Tờ trình Báo cáo đầu tư do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) thay mặt chính phủ trình với Quốc hội miêu tả hết sức vắn tắt bốn phương án đầu tư, sau đó kết luận ngay rằng “sau khi phân tích kỹ các phương án, để đáp ứng các yêu cầu về vận tải đối với tuyến Bắc – Nam, đề nghị lựa chọn phương án 4” – tức là xây dựng tuyến đường sắt cao tốc chỉ để chở khách.

Để ủng hộ cho phương án 4, Tờ trình lần lượt phủ định các phương án khác vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có những lý do rất thiếu thuyết phục. Chẳng hạn như lập luận trong Tờ trình để phản đối phương án 3 là “phương án này có nhược điểm là việc nâng cấp tuyến đường sắt hiện tại sẽ thỏa mãn nhu cầu vận tải khách địa phương và vận tải hàng hóa; tuy nhiên, việc xây mới tuyến đường 1.435mm không đạt được mục tiêu vận tải khách với tốc độ cao.”

Trên thực tế, với một nền kinh tế còn nghèo như Việt Nam, việc vừa có thể chở hàng hóa, vừa có thể chở hành khách phải được coi là một ưu điểm của phương án 3 vì nó cho phép tận dụng hiệu quả kinh tế nhờ phạm vi.

Hơn nữa, với việc kết luận phương án 3 “không đạt được mục tiêu vận tải khách với tốc độ cao,” vô hình trung Tờ trình đã biến phương tiện (tốc độ cao) trở thành mục tiêu! Suy đến cùng, việc lựa chọn tốc độ đường sắt phải xuất phát từ những phân tích khoa học về hiệu quả chung cho toàn bộ nền kinh tế chứ không thể duy ý chí hay chỉ thỏa mãn nhu cầu “hoành tráng” của một thiểu số.

Về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, tốc độ giao thông của một quốc gia là một nhân tố quyết định tới cấu hình kinh tế, và qua đó tới tốc độ và trình độ phát triển của quốc gia. Gia tăng tốc độ giao thông góp phần gia tăng lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, không phải mọi sự gia tăng tốc độ, và do vậy tiết kiệm được thời gian, đều đem lại lợi ích biên (marginal benefit) như nhau.

Lấy trường hợp của của ngành đường sắt Việt Nam làm ví dụ. Việc tiết kiệm được 24,5 giờ do giảm hành trình từ 30 xuống 5,5 giờ với phương án 4 chắc chắn sẽ đem lại những lợi ích kinh tế to lớn. Tuy nhiên, so với phương án 2 hay 3 (tốc độ trung bình 200 km/h, tiết kiệm được 30 – 8 = 22 giờ), thì lợi ích về mặt tiết kiệm thời gian của phương án 4 không thực sự ưu việt hơn. Đấy là chưa kể đến ưu thế tuyệt đối của đường sắt 200 km/h so với đường sắt cao tốc đối với việc chở hàng hóa. Nói một cách tóm tắt, lợi ích biên của việc tăng tốc độ có xu hướng giảm dần.

Ngược lại, chi phí biên (marginal cost) của việc tăng tốc độ lại có xu hướng tăng dần. Lý do là khi tăng tốc độ thì để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và an toàn, một loạt các khoản chi phí sẽ phải tăng lên một cách đáng kể. Cụ thể là kết cấu hạ tầng phải tốt hơn, chất lượng đầu máy và toa xe phải cao hơn, điều kiện an toàn nghiêm ngặt hơn dẫn đến chi phí cao hơn, rồi chi phí bảo hành, bảo dưỡng, đào tạo v,v. tất cả đều có xu hướng tăng theo vận tốc.

Phối hợp hai xu hướng lợi ích biên giảm dần trong khi chi phí biên tăng dần cho thấy, xuất phát từ tốc độ thấp, việc tăng tốc sẽ đem lại lợi ích lớn hơn chi phí. Ngược lại, một khi đã đạt tốc độ cao rồi thì chi phí của việc tăng tốc có thể lớn hơn lợi ích.

Quay lại trường hợp đường sắt ở Việt Nam, rõ ràng là tốc độ trung bình 50 km/h hiện nay vẫn còn thấp hơn tốc độ tối ưu, vì vậy việc tăng tốc độ đường sắt là rất cần thiết. Tuy nhiên, Báo cáo chưa có những luận chứng thực sự thuyết phục để chứng minh rằng vận tốc thiết kế trung bình khoảng 300 km/h thực sự là vận tốc đem lại hiệu quả tối ưu đứng trên góc độ tổng thể của toàn bộ nền kinh tế. Không những thế, Báo cáo không thực sự lý giải tại sao phương án 2 hay phương án 3 với tốc độ trung bình 200 km/h lại kém hiệu quả hơn so với phương án do Báo cáo khuyến nghị.

Liệu cơm gắp mắm

Dự án ĐSCT có quy mô rất lớn, tương đương 60% GDP và 250% ngân sách quốc gia của Việt Nam trong năm 2009. Hơn nữa, dự án này sẽ được thực hiện trong khoảng ¼ thế kỷ với rất nhiều biến số bất định, nằm ngoài tầm kiểm soát và dự đoán. Vì những lý do này, Việt Nam cần đánh giá một cách thận trọng tính khả thi và hiệu quả của dự án, và đặc biệt là cần lường trước những rủi ro kinh tế và tác động của phương án tài trợ dự án đối với nền tài khóa quốc gia.

Theo phương thức huy động vốn được trình bày trong Báo cáo, bình quân một năm cần huy động được 4,4 tỷ đô-la cho dự án ĐSCT, trong đó nguồn vốn từ ngân sách là 0,57 tỷ, từ ODA và vay thương mại khác là 2,44 tỷ, và vốn từ khu vực doanh nghiệp là 1,3 tỷ. Với cách phân bổ nguồn vốn như thế này, vốn từ ngân sách nhà nước cho riêng ĐSCT đã lên tới 15% tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ ngân sách trung ương. Đấy là chưa kể khoản đầu tư cho GTVT từ tiền ứng trước ngân sách, từ các khoản ngoài ngân sách như ODA và trái phiếu chính phủ (các khoản này trong năm 2009 là 31.000 tỷ, tương đương 27% vốn đầu tư XDCB từ ngân sách trung ương).

Hiện nay mỗi năm Việt Nam phải trả nợ viện trợ gần 4 tỷ đô-la, bên cạnh đó, theo theo Bộ Tài chính đến cuối năm 2009, nợ nước ngoài của Việt Nam vào khoảng 30% GDP, còn nợ công đã ở mức 44,7% GDP. Vì vậy, việc vay thêm mỗi năm 2,44 tỷ, trong đó phần lớn sẽ là các khoản vay thương mại do Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình, thì gánh nặng nợ nước ngoài và nợ công và nợ nước ngoài sẽ tăng một cách đáng kể, thậm chí có thể nhanh chóng vượt quá tầm kiểm soát.

 

Hình 1 cho thấy, trong vòng 8 năm (từ 2001 đến 2009), mức nợ công trên đầu người của Việt Nam tăng gần bốn lần. Như vậy, trong giai đoạn này, gánh nặng nợ công trên vai mỗi người dân Việt Nam hàng năm tăng trung bình hơn 18%, cao gấp 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của cùng thời kỳ. Với những dự án khổng lồ như ĐSCT (56 tỷ đô-la), xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT) mới cho thủ đô Hà Nội (90 tỷ đô-la), nhà máy điện hạt nhân (hơn 10 tỷ đô-la), hệ thống tàu điện ngầm ở TP. HCM (hơn 10 tỷ đô-la) cùng rất nhiều dự án đầu tư cần thiết khác cho giáo dục, y tế, CSHT giao thông, an sinh xã hội v.v., chắc chắn nợ quốc gia sẽ tăng nhanh, làm cho gánh nặng nợ nần trên vai các thế hệ tương lai càng trở nên nhức nhối. Vì lý do này, hiệu quả kinh tế của mỗi dự án khổng lồ này cần được cân nhắc với tinh thần trách nhiệm cao nhất để đảm bảo trả được nợ, giảm bớt gánh nặng trên đôi vai của người dân.

Cũng cần thận trọng trong việc dự báo khả năng huy động vốn từ khu vực doanh nghiệp, mà quan trọng nhất chắc chắn phải là Đường sắt Việt Nam với tư cách là đơn vị chủ đầu tư. Thực tế là Đường sắt Việt Nam trong một thời gian dài đã rất vất vả chỉ đề hòa vốn, vì vậy khả năng huy động nguồn tài chính từ đơn vị này sẽ hạn chế. Vì lý do này, Báo cáo nên xem xét lại tính hiện thực của dự kiến huy động 1,3 tỷ đô-la mỗi năm từ khu vực doanh nghiệp.

Khi tăng đầu tư rất lớn cho một khu vực, trong trường hợp này là ĐSCT, tất yếu sẽ dẫn tới hiệu ứng chèn lấn đối với các khu vực khác. Cụ thể là trong điều kiện của một nước đang phát triển, với nhu cầu về CSHT rất lớn như Việt Nam hiện nay, việc dồn đầu tư cho dự án ĐSCT sẽ ngay lập tức ảnh hưởng đến nguồn vốn cho các dự án CSHT thiết yếu và cần kíp khác. Không những thế, việc tập trung một nguồn vốn rất lớn cho khu vực công cũng sẽ hạn chế khả năng tiếp cận vốn của khu vực kinh tế dân doanh, mà trên thực tế khu vực này đang tạo ra hơn 90% việc làm mới cho nền kinh tế.

 

Bên cạnh việc đề ra phương án tài trợ cho dự án ĐSCT, Báo cáo cũng cần thảo luận thêm về phương thức và lộ trình trả nợ trong bối cảnh chung về nợ công của quốc gia. Đồng thời, báo cáo cũng cần đánh giá tác động của việc tăng nợ công, nợ nước ngoài đối với các khu vực kinh tế khác cũng như đối với nền kinh tế vĩ mô của quốc gia.

“Nhấn nút” cho quyết định nào?

Với những thông tin thiếu chính xác, chưa đầy đủ và có phần chủ quan như thế này của Báo cáo đầu tư, chắc hẳn những đại biểu có trách nhiệm sẽ cảm thấy rất đắn đo khi phải nhấn nút. Về mặt hình thức, Bộ GTVT chỉ kiến nghị Quốc hội kỳ này quyết định chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, như được ghi rõ trong Tờ trình của Bộ GTVT, “chủ trương đầu tư” này bao gồm những thông số hết sức cụ thể như quy mô dự án mặc nhiên là đường sắt cao tốc 300 km/h, tổng mức đầu tư mặc định là 55,8 tỷ đô-la v.v. Một cách khách quan, đòi hỏi họ phải nhấn nút cho quyết định chủ trương đầu tư như thế trong kỳ họp lần này là không công bằng vì làm thế tức là buộc họ phải chịu trách nhiệm, một trách nhiệm hết sức to lớn trước đất nước và trước những thế hệ tương lai, trong khi thiếu thông tin đầy đủ và chính xác. Vì vậy, yêu cầu cao nhất nếu có đối với họ chỉ có thể là phân tích và góp ý thật cặn kẽ mọi lẽ thiệt hơn đối với Báo cáo đầu tư dự án ĐSCT để có thể giúp cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện báo cáo và trình lại Quốc hội trong một kỳ họp khác.

Thành viên độc lập, anh là ai?

  Hải Lý

(TBKTSG) – Chúng tôi sẵn sàng trả lương cao và các ưu đãi đi kèm cho những người có thể đại diện cho chúng tôi làm thành viên độc lập trong hội đồng quản trị (HĐQT) những doanh nghiệp nơi chúng tôi góp vốn – tổng giám đốc một công ty quản lý quỹ cho biết. Tìm kiếm người làm thành viên độc lập trong HĐQT đang không chỉ là vấn đề đối với các tổ chức, quỹ đầu tư mà còn của nhiều doanh nghiệp niêm yết. Thành viên độc lập, anh là ai? Và vì sao thị trường tài chính lại cần đến anh vào lúc này?

“Độc lập” trên giấy

Hai năm trước ở một công ty sản xuất dầu ăn niêm yết trên sàn TPHCM đã xảy ra mâu thuẫn giữa HĐQT và ban tổng giám đốc. Hai thành viên độc lập trong HĐQT đại diện cho các quỹ nước ngoài, “đấu tranh” bảo vệ tổng giám đốc, nhưng đã không có kết quả vì chủ tịch HĐQT đại diện cho phần vốn nhà nước 51% có quyền phủ quyết tại đại hội. Cuối cùng các thành viên độc lập từ chức, quỹ đầu tư thoái vốn. Sự rút lui của họ cho thấy vai trò của thành viên độc lập chưa thể thể hiện hiệu quả trong những hoàn cảnh nhất định.

Khoản 1, điều 11, Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13-3-2007 về việc ban hành quy chế quản trị doanh nghiệp áp dụng cho các công ty niêm yết, quy định số lượng thành viên HĐQT một đơn vị ít nhất là 5 người, nhiều nhất 11 người, trong đó một phần ba là thành viên độc lập không điều hành. Khái niệm về thành viên độc lập theo các văn bản pháp lý cho đến nay chỉ có thế. Ngoài ra không ở đâu, không văn bản nào định nghĩa thành viên độc lập là gì, họ phải đáp ứng những tiêu chí nào, trình độ, kinh nghiệm ra sao.

Không có tiêu chí, cũng chẳng có hướng dẫn, nhưng các công ty niêm yết vẫn phải bầu cho được thành viên độc lập vào HĐQT. Vì thế, trong các đợt tập huấn công ty đại chúng, nhiều doanh nghiệp đứng lên hỏi, song đại diện cơ quan quản lý cũng không biết trả lời ra sao. Hỏi không được trả lời, nhưng vẫn phải thực hiện quy định.

Ở nhiều nước, thành viên độc lập là một nghề, được đào tạo hẳn hoi và được trả lương xứng đáng. Việt Nam chưa có một nghề như vậy!

Yêu cầu về thành viên độc lập có từ bao giờ? Bà Trần Anh Đào, Trưởng phòng Quản lý và Thẩm định niêm yết HOSE, cho biết yêu cầu này xuất hiện trong điều lệ mẫu dành cho các công ty niêm yết từ những năm 2002-2003. Tuy nhiên, số doanh nghiệp thực hiện không nhiều vì yêu cầu có tính khuyến khích, không chế tài. Điều lệ mẫu cũ đòi hỏi mỗi năm công ty niêm yết phải bầu lại một phần ba HĐQT. Các công ty thường lấy những thành viên có phiếu bầu thấp nhất lần trước ra bầu lại. Cách làm này không hiệu quả, gây xáo trộn HĐQT, nên sau đó bị bỏ.

Bây giờ hầu hết các công ty niêm yết ở HOSE đã có thành viên độc lập trong HĐQT. Nhưng sự “có” đó chỉ mang tính hình thức.

Tìm đâu thành viên độc lập?

Bà Đào nhấn mạnh theo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế), thành viên độc lập hoàn toàn không liên quan đến lợi ích công ty (mà một trong số đó là không nắm giữ cổ phiếu). Nhưng luật pháp Việt Nam chưa quy định điều này. Các công ty Việt Nam chọn thành viên độc lập theo hai xu hướng. Thứ nhất từ các quỹ đầu tư, đối tác chiến lược, công ty chứng khoán… Những thành viên đó trên thực tế không độc lập hoàn toàn vì họ đại diện cho một nhóm cổ đông hoặc cho tổ chức đầu tư nơi họ làm việc. Thứ hai, những thành viên trước đây tham gia điều hành doanh nghiệp (phó tổng, tổng giám đốc) nay không điều hành nữa, nghĩa là từ không độc lập trở thành “độc lập”.

Ở những công ty xuất thân từ gia đình, tính đại chúng hạn hẹp, thành viên độc lập trong HĐQT có thể là anh em, người thân, người có liên quan đến tổng giám đốc, phó tổng giám đốc. Họ thậm chí là người điều hành công ty con, công ty liên kết của doanh nghiệp niêm yết. Sự độc lập đúng nghĩa ở đây, do đó, bị xóa mờ.

Các quỹ, tổ chức đầu tư thường bỏ vốn vào nhiều công ty. Họ không có đủ người để tham gia HĐQT, nên có trường hợp một người làm thành viên HĐQT 5 -7 doanh nghiệp. Tuy nhiên, Quyết định 12 quy định một thành viên HĐQT không được là thành viên HĐQT của quá năm công ty. Thế nên các quỹ, các tổ chức lao vào tìm kiếm người có thể làm đại diện cho họ trong HĐQT các công ty. Những người này phải có trình độ, kinh nghiệm, tham gia các cuộc họp, góp ý các quyết sách kinh doanh, theo dõi hoạt động các doanh nghiệp đó cho họ. Tìm được những người như thế không dễ. Tổng giám đốc một quỹ đầu tư nói ở nhiều nước thành viên độc lập là một nghề, được đào tạo hẳn hoi và được trả lương xứng đáng. Việt Nam chưa có một nghề như vậy!

Xung đột lợi ích

Vai trò của thành viên độc lập là gì? Thêm một lỗ trống mà văn bản pháp quy không làm rõ. Theo khoản 2-3, điều 25, Quyết định 15/2007/QĐ-BTC ngày 19-3-2007 về việc ban hành điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết, vai trò của thành viên độc lập cũng giống như những thành viên HĐQT khác.

Thực tế lại đang phản ánh những hiện tượng phức tạp trong hoạt động của công ty niêm yết mà chỉ có thành viên độc lập mới phát hiện, giải quyết được. Theo OECD, chẳng hạn, tôi là thành viên HĐQT một doanh nghiệp niêm yết, nhưng đồng thời là chủ một công ty (sân sau) chuyên tiêu thụ sản phẩm của đơn vị niêm yết làm ra. Nếu tổng doanh số tiêu thụ hàng năm của công ty tôi vượt 20% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp niêm yết, thì giao dịch này phải được đại hội đồng cổ đông thông qua; nếu dưới 20% thì phải được HĐQT thông qua và khi HĐQT quyết định, tôi không được bỏ phiếu. Trong trường hợp đó, tiếng nói (lá phiếu) của thành viên độc lập là vô cùng quan trọng. Điều này mới đây đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đưa vào Thông tư 09 về công bố thông tin. Trong đó nêu rõ báo cáo tài chính hàng quí, hàng năm phải công khai giao dịch dạng trên của các bên liên quan nhằm ngăn ngừa xung đột lợi ích.

Hàng loạt các vấn đề khác liên quan đến thành viên HĐQT đang khiến nhà đầu tư đau đầu, đòi hỏi phải có thành viên độc lập ở vai trò giám sát. Thí dụ công ty cho thành viên HĐQT vay tiền hoặc ngược lại; thành viên HĐQT dùng tài sản của mình thế chấp ở ngân hàng cho công ty niêm yết vay tiền hoặc ngược lại; đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết mà thành viên HĐQT có cổ phần… Từ những mối quan hệ chằng chịt này, đã xảy ra việc chuyển lời lỗ từ các công ty niêm yết về các công ty con làm các thành viên có lợi ích liên quan được hưởng lợi. Các nguyên tắc quản trị công ty của OEDC chỉ ra rằng trong HĐQT phải lập ra các tiểu ban đề giúp HĐQT như tiểu ban lương thưởng, kiểm toán, nhân sự… và trưởng các tiểu ban bắt buộc phải là thành viên độc lập HĐQT. Việt Nam chưa hề có một quy định bắt buộc như thế.

Thị trường tài chính Việt Nam còn trẻ, nhà đầu tư phần lớn ngắn hạn, chưa quan tâm đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, mới chỉ chú ý đến công ty sinh lời nhanh, thiếu các tổ chức tạo lập thị trường… Trên cái nền đó, chỗ đứng của thành viên độc lập HĐQT chưa thể nổi bật. Nhưng khi thị trường càng lớn, xung đột lợi ích giữa các chủ thể phát sinh càng nhiều, thành viên độc lập sẽ trở thành nhân vật không thể thiếu để bảo vệ nhà đầu tư. Sự hoàn chỉnh quy định về thành viên độc lập phải bắt đầu từ khía cạnh pháp luật bằng sự sửa đổi, bổ sung, cập nhật quy định về mẫu hình này.

Chuyên nghiệp và quyền lực

Nguyễn Vạn Phú
(TBKTSG) – Quốc hội lại bước vào kỳ họp mới. Người dân quan tâm đến những vấn đề lớn của đất nước theo dõi các phiên họp để xem các đại biểu của mình lý giải các vấn đề này như thế nào, có đại diện được cho quyền lợi của mình không. Thế nhưng, điểm qua các nội dung lớn của kỳ họp lần này, không khỏi băn khoăn liệu các đại biểu Quốc hội đã được chuẩn bị đầy đủ để đưa ra quyết định chính xác nhất.
Lấy ví dụ, tại phiên thảo luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 6-5 về dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, khi có hai luồng ý kiến, một bên đòi hạn chế mỗi cổ đông là tổ chức không được sở hữu quá 10% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng; một bên nói nên giữ nguyên mức như hiện nay là 20%, một đại biểu là lãnh đạo Quốc hội gợi ý nên dung hòa, 10% quá thấp, 20% quá cao thì nên lấy con số 15% là đẹp nhất!
Lẽ ra trong trường hợp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên mời những những bên có liên quan, kể cả chuyên gia độc lập ra trước ủy ban để điều trần. Đại biểu phải đặt cho được những câu hỏi để tìm lời giải đáp: có hay không việc lũng đoạn của các cổ đông tổ chức đối với các ngân hàng, vai trò của tỷ lệ vốn sở hữu trong chuyện lũng đoạn, tình hình thực tế trong những năm qua như thế nào, tỷ lệ 10% thì mức độ lũng đoạn ra sao, 20% sẽ khác gì, 15% có thật sự dung hòa được lợi ích các bên, thông lệ quốc tế trong trường hợp này như thế nào, cơ chế bảo vệ cổ đông nhỏ ra sao…
Không thể trông chờ một đại biểu trong ngành giáo dục thông hiểu mọi điều trong ngành tài chính – ngân hàng hay một đại biểu ngành công đoàn nắm rõ cách thức thu hồi vốn của dự án đường sắt cao tốc… nhưng đại biểu là người, thông qua thông tin tiếp nhận được, đối chiếu với lợi ích của người dân mình đại diện, hoàn toàn có thể đưa ra quyết định đúng đắn.
Hàng loạt vấn đề lớn của đất nước đòi hỏi đại biểu Quốc hội phải được quyền tiếp cận thông tin nhiều chiều thì ý kiến của họ mới có ý nghĩa. Với các dự thảo luật, nếu chỉ dựa vào thông tin trong tờ trình của nơi soạn thảo, làm sao đại biểu có cái nhìn khách quan về nhiều vấn đề phức tạp, không dễ hiểu một sớm một chiều. Với các dự án lớn như đường sắt cao tốc Bắc – Nam, nếu chỉ dựa vào thông tin do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đưa ra, chắc ai cũng thuận lòng thông qua dự án hơn 55 tỉ đô la này.
Quốc hội phải xem việc mời hay triệu tập những bên có liên quan điều trần trước Quốc hội là việc làm bình thường, phải làm thường xuyên, cả điều trần chính thức lẫn cung cấp thông tin không chính thức. Luật đã quy định đại biểu Quốc hội được quyền yêu cầu các cơ quan chức năng cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của mình. Bản thân mỗi đại biểu, hay ít nhất mỗi đoàn đại biểu phải có kinh phí để tổ chức việc thu thập thông tin, tìm hiểu mọi khía cạnh của các vấn đề sẽ được đưa ra thảo luận tại Quốc hội.
Mấy tháng trước kỳ họp lần này, đại biểu Phạm Thị Loan, đơn vị Hà Nội, đã bị bí thư một xã ở tỉnh Hòa Bình từ chối tiếp, khóa cổng giam xe, nói năng thô lỗ… khi bà đến tìm hiểu thông tin của địa phương. Đây là một sự việc vi phạm nghiêm trọng quyền của đại biểu Quốc hội, cần được kỳ họp này xem xét giải quyết triệt để. Khi bà Loan, với tư cách đại biểu Quốc hội đi tìm hiểu thông tin, bà là đại biểu cho quyền lực của người dân cho nên những hành vi cản trở đại biểu thực hiện nhiệm vụ sẽ phải bị xử lý theo pháp luật. Cán bộ chính quyền hay cán bộ Đảng coi thường một đại biểu, có nghĩa coi thường Quốc hội, mà theo Hiến pháp, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Việt Nam.
Nếu không làm được những động tác tối thiểu phục vụ cho hoạt động của mình tại Quốc hội, các đại biểu rồi cũng sẽ chỉ tham gia ý kiến sửa câu chữ trong các dự án luật, chỉnh sửa vài con số trong các dự án lớn, nâng lên hạ xuống vài chỉ tiêu kinh tế.

Nợ công – đừng để cháy nhà mới lo dập lửa

Ts. Trịnh Tiến Dũng
(TBKTSG) – (Nhân đọc các bài về nợ công Việt Nam và hồ sơ khủng hoảng nợ ở Hy Lạp trên TBKTSG số ra ngày 13-5-2010)
Vay nợ để phát triển là một cách huy động vốn cho phát triển quen thuộc trên thế giới. Không ở đâu trên thế gian này có thể phát triển mà không vay mượn. Số liệu thống kê cho thấy những nền kinh tế lớn nhất trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… cũng chính là những con nợ kếch sù. Vay nợ không phải là điều đáng lo nhất.
Điều cần bàn trước hết là làm thế nào để chủ động ở mức cao nhất trong nợ công, không phải chạy theo chủ nợ. Muốn vậy, cần phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý thuộc hệ thống công quyền các cấp về gánh nặng nợ nần đè lên vai các thế hệ con cháu mai sau mỗi khi đặt bút đề ra hoặc ký duyệt bất kỳ một yêu cầu vay nợ nước ngoài nào. Và căn bản hơn là làm thế nào để không ngừng nâng cao năng lực quản lý nợ công, nhất là nợ nước ngoài.
Ở cả hai mảng quan trọng này chúng đang phải đối mặt với những bất cập và thách thức rất lớn.
Ý thức về gánh nặng nợ nần
Ngày 1-2 năm nay, tạp chí The Economist cho đăng tải bài viết của Buttonwood nhan đề “The debt crisis – how countries rank” (tạm dịch: Khủng hoảng nợ: thứ bậc của các nước thế nào). Bài viết dựa trên một nguyên lý cơ bản là nợ thì phải trả và nguồn trả nợ chính là từ sự tăng trưởng của quốc gia. Do vậy, bài viết phân tích mối quan hệ giữa mức tăng GDP và lãi phải trả cho các khoản vay nợ. Hiệu số giữa hai đại lượng đó nói lên mức độ nợ nần của các quốc gia. Mặc dầu phương pháp và số liệu mà tác giả sử dụng còn có nhiều ý kiến khác nhau, kết quả tính toán cho thấy Hy Lạp, Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… là những nước có nguy cơ bị sập bẫy nợ, khủng hoảng nợ lớn nhất. Thực tế những gì đang diễn ra những ngày này ở Hy Lạp đã khẳng định tính toán trên đây của Buttonwood.
Hiện nay, Hy Lạp đang oằn lưng dưới gánh nặng nợ công và nợ nước ngoài lên đến gần 300 tỉ euro và đang bị cuốn vào tâm xoáy của vòng luẩn quẩn: khủng hoảng ” nợ cắt giảm, siết chặt chi tiêu ngân sách vỡ gia tăng nợ công “ giảm phát “ thất nghiệp “ giảm tăng trưởng “ ” nợ. Không thể nói là các nhà hoạch định chính sách vĩ mô của Hy Lạp đã không kịp thời nhận thức được hậu quả thê thảm này khi họ đưa ra các đề nghị vay tiền nước ngoài. Chỉ có thể lý giải sự kiện này bằng một lý do hết sức đơn giản, đó là thói quen vung tay quá trán, mặc kệ tương lai, không cần quan tâm đến gánh nặng nợ nần đè lên vai đất nước.
Còn ở Việt Nam thì sao? Chúng ta đã làm gì để hạn chế hoặc giúp đất nước tránh được cái bẫy nợ nước ngoài?
Năng lực thể chế trong quản lý nợ công
Bài viết này chỉ tập trung đề cập hai tác nhân chính là vai trò của cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước và vai trò của các thành phần xã hội khác trong vấn đề nợ công.
Về thực quyền của Quốc hội và năng lực chuyên môn của các cơ quan của Quốc hội trong việc đáp ứng chức năng, nhiệm vụ to lớn mà Luật Quản lý nợ công đã giao phó là một vấn đề mà cử tri hết sức quan tâm.
Quốc hội, thay mặt nhân dân, thay mặt cử tri cả nước, thẩm tra và quyết định các vấn đề luật định về nợ công sao cho khôn khéo và hiệu quả nhất, trong khi lại quá thiếu cán bộ chuyên môn, thời gian, và đặc biệt là thông tin. Các đại biểu Quốc hội thường chỉ tiếp cận được với thông tin thứ cấp, thông tin tổng hợp, không đủ chi tiết để có thể phân tích đánh giá một cách đầy đủ trong khi việc yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung từ các cơ quan hành pháp không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi.
Cử tri có thể đặt câu hỏi: vậy đại biểu Quốc hội dựa vào đâu để bấm nút biểu quyết thông qua các chương trình, dự án cần vay vốn nước ngoài như nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận vừa qua hay nay mai là đường sắt cao tốc Bắc – Nam, hay quy hoạch lại thủ đô Hà Nội…? Câu trả lời xin nhường lại cho cơ quan hữu trách. Tuy nhiên có một số giải pháp khả thi mà trên thực tế cũng đã được áp dụng (mặc dù hiệu quả thực tế lại là việc khác).
Chẳng hạn, Quốc hội có thể mời các nhà khoa học trong và ngoài nước có kiến thức và kinh nghiệm về các vấn đề liên quan đến nợ công nghiên cứu, tính toán, cân nhắc và cung cấp thông tin cho các đại biểu Quốc hội giúp họ có thêm luận cứ để đưa ra quyết định.
Một giải pháp khác căn cơ hơn nhưng phải kiên trì thực hiện về lâu dài là nâng cao nhận thức và kỹ năng cho đại biểu dân cử về các vấn đề liên quan đến việc thực hiện Luật Quản lý nợ công thông qua một dự án hỗ trợ kỹ thuật mới hoặc một hợp phần trong hai dự án hiện đang được Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội thực hiện với sự tài trợ của UNDP.
Các cơ quan ngoài nhà nước cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc theo dõi, phản biện các chủ trương, biện pháp, các quyết định về vay và trả nợ và đặc biệt là trong việc giám sát việc thực hiện các chương trình, dự án sử dụng vốn vay, nhất là ở cơ sở. Trước hết, đó là các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức quần chúng như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận như Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các tổ chức xã hội dân sự… Ấy vậy mà Luật Quản lý nợ công không có một điều khoản nào quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức ngoài nhà nước trong việc quyết định chủ trương, phương hướng, mục tiêu vay nợ và sử dụng vốn vay, ban hành và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nợ công.
Như vậy là các nỗ lực nhằm tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức đại diện cho nhân dân trong việc giám sát vay nợ công và sử dụng vốn vay đã không được luật hóa và cơ hội tham gia của họ lại một lần nữa (sau Luật Ngân sách Nhà nước 2002) tuột khỏi tầm tay. Đó là một bất cập lớn làm hạn chế năng lực thể chế về nợ công. Chừng nào mà các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước, các nhà khoa học, đại diện các hội đoàn, các tổ chức dân sự chưa có tiếng nói, có vị trí trong Luật Quản lý nợ công thì chừng đó những yêu cầu về quản lý hiệu quả nợ vay của nước ngoài cũng chỉ là mong muốn mà thôi.
Thiếu đại biểu Quốc hội am hiểu về nợ công
Trước đây, trong giai đoạn 2003-2008, dự án “Tăng cường năng lực cho Quốc hội và HĐND trong quy trình ngân sách” do Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) hỗ trợ. Nhiều cuộc hội thảo, các khóa tập huấn, các chuyến tham quan khảo sát ở nước ngoài về các vấn đề liên quan đến nợ nước ngoài đã được tổ chức cho các đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tham dự. Tuy vậy, dự án đã gặp phải một số khó khăn sau:
1) Rất ít đại biểu Quốc hội quan tâm tham gia các hoạt động trong nước (mỗi hoạt động chỉ có vài ba đại biểu Quốc hội, ngoài người chủ trì là lãnh đạo của Ủy ban Kinh tế-Ngân sách, sau đó là Ủy ban Tài chính – Ngân sách). Thành phần tham gia chính lại là đại biểu HĐND trong khi họ không phải là đối tượng chính của các hoạt động này vì theo luật định, địa phương không được phép trực tiếp vay vốn nước ngoài mà chỉ có thể vay lại của Chính phủ. Hơn nữa, sau mỗi kỳ bầu cử Quốc hội, phải lặp lại các hoạt động nâng cao năng lực cho số đại biểu mới được bầu trong khi năng lực của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử (thuộc Ban công tác đại biểu của Quốc hội) chưa thể đảm trách việc bồi dưỡng chuyên môn sâu như vậy.
2) Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội chưa có kế hoạch dài hạn nhằm đào tạo chuyên sâu cho chuyên viên của vụ chuyên môn, là cơ quan giúp việc cho ủy ban trong các vấn đề chuyên môn về nợ công nói chung và nợ nước ngoài nói riêng.
3) Hệ thống TABMIS (hệ thống thông tin quản lý về kho bạc và ngân sách nối cơ quan tài chính cấp huyện với Bộ Tài chính trên phạm vi cả nước) không nối mạng với các cơ quan của Quốc hội do vậy họ không có cơ hội được truy cập thông tin trực tuyến mà phải dựa vào nguồn thông tin thứ cấp do cơ quan hành pháp cung cấp.

Thời và thế trong xác định giá trị doanh nghiệp

 
Hải Lý

(TBKTSG) – Trên trang web của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), phần “danh mục đầu tư” có một tiểu mục nhỏ mang tên “hoạt động bán vốn”. Ở đó SCIC thông báo bán cổ phần do mình sở hữu ở các doanh nghiệp. Còn ở một tiểu mục khác “kết quả đấu giá”, công chúng có thể thấy danh sách những công ty mà SCIC đã bán cổ phần thông qua đấu giá công khai.

Từ việc thoái vốn của SCIC

SCIC là doanh nghiệp nhà nước duy nhất có hoạt động bán vốn thường xuyên, đặc biệt trong năm nay khi tổng công ty vừa công bố sẽ thoái vốn ở hơn 250 đơn vị vừa, nhỏ, nơi Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối. Đối với những công ty đã niêm yết, thỉnh thoảng vẫn thấy trang web của sàn Hà Nội và sàn TPHCM thông báo SCIC bán cổ phiếu của doanh nghiệp nọ, doanh nghiệp kia, từ ngày này đến tháng này…

Những hoạt động thuần túy mang tính nghiệp vụ ấy của SCIC chẳng có gì đáng nói, bởi SCIC cũng tính toán chi li. Quy mô thoái vốn của tổng công ty thường cấp tập hơn ở những thời điểm thị trường chứng khoán tăng trưởng. Không ít trường hợp trên sàn, SCIC vừa thoái vốn xong thì cổ phiếu đó xuống giá. Xem ra, SCIC bán vốn hiệu quả hơn nhà đầu tư “lướt sóng”!

Tuy nhiên, không phải không có trường hợp SCIC thoái vốn rồi, vài năm sau doanh nghiệp mà tổng công ty không còn nắm hoặc nắm một tỷ lệ thấp cổ phần, kinh doanh hiệu quả hơn trước, giá cổ phiếu tăng, thậm chí tăng gấp 2-3 lần. Hoặc cũng có những doanh nghiệp, cũng sở hữu tài sản đó, nhưng sau khi cổ phần hóa hay SCIC thoái vốn, kinh doanh đạt lợi nhuận cao hơn nhờ tận dụng tài sản lợi thế tốt hơn. Điều này là bình thường và là mục tiêu mà công chúng đầu tư hướng tới, nghĩa là bỏ tiền vào một công ty 5-7 năm sau có được một khoản lời.

Trong tất cả những khía cạnh đề cập ở trên, sự tăng hay giảm giá cổ phần gắn liền với hiệu quả làm ăn của doanh nghiệp, trong sự giả định rằng việc xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa hay SCIC thoái vốn là thích hợp với giá thị trường tại thời điểm đó. Cùng với thời gian, giá trị doanh nghiệp thay đổi.

Thí dụ năm 2004 Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk) bán bớt phần vốn nhà nước thông qua đấu giá công khai. Trước ngày đấu giá, cổ phiếu Vinamilk được mua đi bán lại trên thị trường OTC với giá 24.000-25.000 đồng/cổ phiếu. Nhưng khi đấu giá, có nhà đầu tư ngoại bỏ giá tới 42.000 đồng/cổ phiếu, còn giá trúng thầu thấp nhất cũng cao hơn giá đang giao dịch OTC. Như vậy, Nhà nước đã bán được Vinamilk với giá đắt hơn giá thị trường. Với số vốn điều lệ khi đó là 1.500 tỉ đồng, cứ lấy giá cao nhất là 42.000 đồng/cổ phiếu, thì mức vốn hóa của Vinamilk là 6.300 tỉ đồng. Bây giờ, mức vốn hóa của công ty sữa này khoảng 32.000 tỉ đồng tùy sự biến động hàng ngày của giá cổ phiếu. Sau sáu năm, giá trị doanh nghiệp của Vinamilk đã tăng lên gấp nhiều lần. Liệu có thể lật ngược lại thời gian để nhận định rằng trước đây giá trị doanh nghiệp của Vinamilk khi cổ phần hóa đã được xác định chưa chính xác?

Hai mươi năm sau

Trong suốt gần 20 năm cổ phần hóa, từ đầu những năm 1990 đến nay, Việt Nam đã đi những bước thận trọng, kể cả trong việc tạo dựng khung pháp lý và chỉnh sửa, thay đổi nó dần dần cho sát với thực tế cuộc sống. Xác định giá trị doanh nghiệp bao giờ cũng là chương mục phức tạp nhất mà các cơ quan xây dựng luật phải đối mặt, đặc biệt việc tính giá trị quyền sử dụng đất, hình thức giao đất, thuê đất, lợi thế thương mại của tài sản trên đất. Có những doanh nghiệp khi bán cổ phần, Nhà nước thu về một lượng tiền lớn hơn giá trị thực. Và cũng có những doanh nghiệp mà Nhà nước lẽ ra phải thu được số tiền cao hơn so với giá trị đã xác định. Từ thực tế ấy, chúng ta có kinh nghiệm để cổ phần hóa những doanh nghiệp đi sau và đẩy nhanh công cuộc cải cách doanh nghiệp quốc doanh.

Hiện nay, việc lật lại một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa, được bán với giá rẻ, không đúng với giá trị thực, nhằm rút kinh nghiệm, tránh thất thoát tài sản nhà nước là cần thiết. Song sự lật lại đó, nếu không tính đầy đủ đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, không xử lý hợp tình hợp lý, sẽ ảnh hưởng đến việc cổ phần hóa vốn đang chậm trễ so với kế hoạch đề ra. Hơn nữa, những quy định về xác định giá trị doanh nghiệp khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần hiện nay đã khác trước khá nhiều. Lấy những quy định của hôm nay để đối chiếu với những quy định của ngày trước, từ đó cho rằng giá trị của một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa từ nhiều năm trước, phải được định giá lại là không thực tế!

Nhìn rộng ra, xác định giá trị doanh nghiệp đòi hỏi sự tham gia của giới tài chính chuyên nghiệp, với những tổ chức định giá độc lập, có uy tín, thâm niên. Lâu nay, ở các đơn vị cổ phần hóa, việc xác định giá trị doanh nghiệp thường được giao cho ban đổi mới và cổ phần hóa của chính công ty đó với sự góp mặt của hoặc giám đốc, hoặc phó giám đốc, kế toán trưởng và đại diện cơ quan quản lý, các ban ngành như sở tài chính, sở công thương, sở nông nghiệp, sở du lịch… Đại diện của các sở ngành thường là chuyên viên kiêm nhiệm, họ có chuyên môn riêng, nhiều khi không liên quan đến tài chính.

Ngoài ra, yêu cầu một sự định giá doanh nghiệp khách quan từ chính lãnh đạo doanh nghiệp cũng chỉ mang tính tương đối. Trong điều kiện chúng ta còn thiếu các tổ chức định giá chuyên nghiệp, độc lập, và với hình thức định giá trong quá khứ, mà phần lớn giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa được xác định hợp lý, đó đã là một thành công không thể phủ nhận.

Sẽ còn nhiều thay đổi trong phương thức xác định giá trị doanh nghiệp khi tới đây Việt Nam tiếp tục cổ phần hóa những tổng công ty lớn. Đối với những doanh nghiệp như Vietcombank… có bao giờ các cơ quan chức năng đặt vấn đề vì sao giá Vietcombank khi IPO là hơn 100.000 đồng/cổ phiếu và mức giá đó chưa bao giờ cổ phiếu này đạt được kể từ ngày niêm yết (giá VCB chưa bao giờ lên 100.000 đồng/cổ phiếu).

Trở lại với SCIC, hoạt động bán vốn của tổng công ty đã thu về cho Nhà nước những khoản tiền không nhỏ. Điều mà công chúng quan tâm là SCIC đã sử dụng những khoản tiền thu được đầu tư vào những doanh nghiệp khác như thế nào, hiệu quả ra sao? Còn nhớ cách đây chưa lâu, SCIC đã mua lại số cổ phần của tập đoàn Bảo Việt mà Vinashin nắm giữ với giá cao gấp đôi giá cổ phiếu Bảo Việt trên sàn. Đã có cơ quan chức năng nào đề cập đến hiệu quả của việc đầu tư như thế khi mà tầm cỡ của nó lớn hơn nhiều các vụ thoái vốn ở những doanh nghiệp nhỏ và vừa?

Khát đầu tư

(TBKTSG) – 90 tỉ đô la Mỹ để xây dựng cơ sở hạ tầng thủ đô theo đồ án quy hoạch chung Hà Nội mở rộng; hơn 55 tỉ đô la để xây dựng đường sắt cao tốc Bắc – Nam. Đó là số vốn đầu tư khổng lồ dự kiến cho hai siêu dự án này trong một số năm tới, trong khi GDP của Việt Nam hiện tại chỉ vào khoảng 100 tỉ đô la.

Còn bao nhiêu dự án, bao nhiêu công trình khác, có cái hết sức cấp bách và hiệu quả thì đã thấy rõ, đang cần vốn đầu tư mà chưa tìm được nguồn vốn, như hệ thống metro ở Hà Nội và TPHCM, đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay quốc tế Long Thành, cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong…

Thế nhưng không hiểu vì lý do gì, dường như đang có một sự vận động ráo riết, quyết liệt từ các bộ ngành liên quan để hai siêu dự án trên sớm được thông qua.

Và nhằm mục đích ấy, người ta đưa ra đủ thứ lập luận, kiểu như: hãy cứ thống nhất với nhau về sự cần thiết cấp bách của dự án, còn hiệu quả của dự án, thực hiện như thế nào, lấy vốn ở đâu ra sẽ bàn sau, trong khi quy trình đầu tư lẽ ra phải ngược lại.

Bởi vì thực hiện hay không thực hiện những siêu dự án như vậy hoàn toàn không giống như việc người ta mua một mớ rau, ký cá. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính khả thi cả về mặt hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn vốn lẫn khả năng làm chủ công nghệ, và trên hết là khả năng chi trả, là sự đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Bởi ai cũng biết, muốn thực hiện những siêu dự án như trên không thể không vay nợ nước ngoài vì năng lực tài chính quốc gia vẫn còn rất hạn chế khi nợ nước ngoài của chính phủ đã gần vượt ngưỡng an toàn, khi thâm hụt ngân sách ngày càng tăng mạnh.

Trong điều kiện năng lực tài chính quốc gia có hạn như vậy, ai cũng hiểu cần ưu tiên đầu tư cho những công trình mang lại hiệu quả kinh tế nhanh nhất, có khả năng hoàn vốn nhanh nhất, nếu không gánh nặng nợ quốc gia để lại cho thế hệ sau sẽ hết sức nặng nề.

Xét theo tiêu chí ấy, hai siêu dự án nói trên trước mắt đặt ra nhiều vấn đề về tính hiệu quả, tính khả thi. Nhiều đại biểu Quốc hội cũng đã nói thẳng những lo ngại của họ về gánh nặng đối với nền kinh tế, về an ninh tài chính quốc gia nếu thực hiện hai siêu dự án trên.

Vậy tại sao hai siêu dự án trên vẫn được giải thích như là những dự án thực sự cấp bách đối với nền kinh tế? Câu trả lời không nằm đâu khác ngoài sự khát vốn đầu tư, lợi ích cục bộ của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và có thể của một số nhóm lợi ích nào đó. Các tập đoàn luôn khát đầu tư để nuôi chính nó, nhiều khi bất kể lợi ích toàn cục của nền kinh tế quốc gia ra sao.

Tuy nhiên, việc đưa các dự án này ra bàn tại Quốc hội khiến người ta có quyền hy vọng các đại biểu thực sự vì lợi ích chung của nền kinh tế xét như một tổng thể, vì lợi ích của toàn thể nhân dân không chỉ hiện tại mà còn là trong tương lai, sẽ biết cách từ chối cơn khát đầu tư của các tập đoàn, các nhóm lợi ích. Bằng không, chịu thiệt sẽ là toàn bộ nền kinh tế trong khi được lợi chỉ là một số ít tập đoàn, bất chấp nguy cơ cho nền tài chính quốc gia.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn