Biển Nam Trung Hoa: Bàn ăn chỉ dành riêng cho người Trung Quốc ?


https://i2.wp.com/upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cf/South_China_Sea.jpg/260px-South_China_Sea.jpg

Carlyle A. Thayer

Lê Quốc Tuấn – chuyển ngữ

Theo: X-CafeVN

Trung Quốc chối bỏ Hiệp ước Liên Hiệp Quốc bằng việc khẳng định chủ quyền trên vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)

Khi trung tâm kinh tế toàn cầu chuyển dịch về hướng đông, phản ánh sự vươn dậy của Trung Quốc như một nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, các tuyến đường thương mại phục vụ khu vực có tầm quan trọng lớn hơn. Tình hình ấy cũng mang đến sự chú ý về Công ước Luật Biển năm 1982 – hoặc UNCLOS – của Liên Hiệp Quốc. Chế độ pháp lý quốc tế này đã quản lý trật tự hàng hải trên toàn cầu trong một thập kỷ rưỡi qua và vùng Đông Á đã nổi lên như một vũ đài mới của cuộc xung đột.

Trung Quốc đã gửi tín hiệu chối từ đến UNCLOS bằng cách khẳng định một loại “chủ quyền không thể chối cãi” của mình trong vùng biển Nam Trung Hoa. Các vụ xung đột về quan điểm qua những khẳng định của sáu nước giáp biển khác – Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei – tất cả đều có các khiếu nại pháp lý khác nhau về lãnh hải, đạc điểm, hải đảo của minh dựa trên UNCLOS.

Những khiếu nại từ nhiều thập kỷ qua đã trở nên cấp thiết hơn với sự xuất hiện của Trung Quốc như một quốc gia thương mại lớn, phụ thuộc hơn bao giờ vào các tuyến đường vận chuyển quốc tế mở rộng từ các nước Đông Á đến vùng Trung Đông. Trung Quốc, một thời tự cung tự cấp nguồn năng lượng của mình, nay phải nhập khẩu dầu hỏa và sự lệ thuộc vào việc nhập khẩu khí đốt tự nhiên sẽ tăng lên rõ rệt trong hai thập kỷ tới. Mối lo ngại cho sự an toàn của các tuyến đường giao tiếp trên biển và nhu cầu cho các nguồn năng lượng hydrocarbon của Trung Quốc hội tụ lại trên vùng biển Nam Trung Hoa, nơi được cho là có chứa những mỏ dầu và khí đốt lớn.


Biển Đông, các khu vực và tài nguyên tranh chấp giữa các nước

UNCLOS đi vào hiệu lực từ năm 1996 như là một chế độ pháp lý toàn cầu, quy định các quyền và trách nhiệm của những quốc gia ven biển trong lĩnh vực hàng hải. UNCLOS là một thỏa hiệp tinh tế hình thành sự chia xẻ nhượng bộ nhau giữa các nước có ven biển và các nước sử dụng những vùng biển quan trọng cho sự tồn vong kinh tế của mình.

Theo UNCLOS, tất cả các quốc gia ven biển được quyền hình thành một khu vực đặc quyền kinh tế 200 (EEZ) hải lý từ bờ biển của mình. Họ được quyền làm chủ tất cả các nguồn tài nguyên trong khu vực bao gồm cả ở vùng biển và dưới đáy biển. Những nước sử dụng hàng hải được ban cho quyền quá cảnh qua vùng đặc quyền kinh tế bằng đường biển và đường hàng không.

UNCLOS buộc cả quốc gia có vùng ven biển và người sử dụng phải tôn trọng các quyền của phía bên kia.

Ngoài ra, UNCLOS tạo nên một sự phân biệt giữa đảo và các đặc điểm khác, chẳng hạn như các bãi đá. Quần đảo được xác định là các vùng đất được bao quanh bởi nước biển, có thể giúp cư dân sống được và có một chức năng về kinh tế. Theo luật pháp quốc tế, các hải đảo được hưởng 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế. Các đặc điểm khác trên biển – bao gồm các đảo đá, bãi san hô, đảo nhỏ, bãi cát – không được hưởng quyền hạn này.

Rắc rối trong vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) phát sinh cả vì vị trí ở ngay trung tâm của tuyến đường vận chuyển nhộn nhịp đứng hàng thứ nhì trên thế giới liên kết Đông Á đến Trung Đông và vì địa hình phức tạp của vùng biển này. Vùng bao gồm hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc và quần đảo Trường Sa ở trung tâm. Cả hai quần đảo, với vô số đạc điểm, được đánh dấu là vùng nguy hiểm trên bản đồ điều hướng. Những tuyến đường biển ven đi quanh các quần đảo này vì lý do an toàn hàng hải ở phía đông gần Philippine và phía Tây gần Việt Nam. Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có tính quan trọng về kinh tế vì nguồn cá và các nguồn tài nguyên hydrocarbon, vốn là những tiềm năng đã được kiểm chứng.

Dựa vào nguồn gốc khai phá trong lịch sử, Trung Quốc và Đài Loan khẳng định hầu như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và tối thiểu là bảy tính năng trong vùng biển Nam Trung Hoa. Đài Loan được cho là chiếm được một hòn đảo duy nhất – trong ý nghĩa pháp lý thành lập bởi UNCLOS – trong quần đảo Trường Sa.

Phần còn lại của quần đảo Trường Sa được chia ra như sau: Việt Nam chiếm hơn 20 tính năng, số lượng lớn nhất, Philippine chiếm chín và Malaysia, ít nhất là năm. Brunei không chiếm bất kỳ tính năng nào và chỉ khẳng định 200 dặm hải lý vùng đặc quyền kinh tế.

Năm 2002, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã tìm cách để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ của họ bằng cách thông qua bản Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở vùng Biển Đông (DOC). Họ đã cam kết giải quyết sự khác biệt một cách hòa bình không sử dụng hoặc đe dọa bằng vũ lực. Tài liệu này cũng đặt ra một số hoạt động có tính hợp tác và các biện pháp xây dựng lòng tin nhưng chưa bao giờ được sử dụng đến.

Một phần căng thẳng hiện nay ở vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã hình thành từ tháng 5 năm 2009 khi Ủy ban Liên hợp quốc về Các giới hạn của Thềm lục địa đưa ra thời hạn chót để nộp các khiếu nại về thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lý. Việt Nam và Malaysia, cả hai nước vừa riêng rẽ vừa cùng nhau nộp đơn khiếu nại của mình. Điều này gây nên sự phản đối của Trung Quốc.

Trung Quốc kiến lập văn bản cho trường hợp khiếu kiện của mình bằng cách lần đầu tiên chính thức đưa vào chương trình nghị sự một bản đồ vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có chín dòng gạch ngang tạo thành một hình chữ U vòng xuống bờ biển phía đông của Việt Nam đến phía bắc của In-đô-nê-xi-a và sau đó tiếp tục vòng lên bờ biển phía tây của Philippine. Không có tài liệu nào khác cung cấp được tọa độ địa lý chính xác hoặc làm thế nào liên kết những dòng vạch chia này. Đò hỏi này của Trung Quốc cắt sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế được hình thành bởi các quốc gia có vùng duyên hải.

Trầm trọng hơn thế, Trung Quốc còn bỏ mặc những khẳng định lãnh hải của mình không rõ ràng: Phải chăng bản đồ hình chữ U của Trung Quốc khẳng định tất cả các chủ quyền hàng hải đối với tất cả các hải đảo và các tính năng ? Bản đồ yêu cầu bồi thường tất cả các lĩnh vực hàng hải là vùng lãnh hải của Trung Quốc? Hay là Trung Quốc đòi hỏi rằng các đảo, bãi đá của mình thực sự là những quần đảo được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế ?

Trung Quốc đã gây sức ép để các công ty Mỹ không hỗ trợ các nước khác trong việc thăm dò dầu khí. Trung Quốc đã áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương hàng năm đối với các ngư dân Việt Nam. Năm nay, Trung Quốc đã chứng minh sự gây hấn bất thường trong việc can thiệp vào hoạt động thương mại của các tàu thăm dò dầu khí hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế do Philippine và Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Việt Nam đã phản ứng với việc cắt cáp thăm dò trên hai con tàu của mình bằng cách gửi con tàu ra biển trở lại với đội vũ trang hộ tống và tiến hành một cuộc tập trận bắn đạn thật ở các vùng lãnh hải.

Các nước tranh chấp khác trong vùng Đông Nam Á tìm các giải quyết tranh chấp của mình với Trung Quốc bằng cách kết hợp với nhau và đi theo một vị trí chung. Sau đó, họ muốn đàm phán với Trung Quốc trên cơ sở đa phương. Trung Quốc khẳng định rằng tất cả các tranh chấp lãnh thổ phải được giải quyết trên cơ sở song phương của các quốc gia có liên quan trực tiếp. Sự khác biệt trong cách tiếp cận này đã cản trở những nỗ lực ngoại giao giữa ASEAN và Trung Quốc để chấp nhận những hướng dẫn làm sống lại bản Tuyên bố năm 2002 từng thoi thóp và nâng cấp DOC thành một điều luật có tính ràng buộc pháp lý hơn.

Hoa Kỳ và các cường quốc hàng hải khác khẳng định mình là các thành phần liên quan hợp pháp và nên là một phần của tiến trình này. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã khẳng định rằng Hoa Kỳ có một quyền lợi quốc gia trong việc tự do hàng hải, mở cửa truy cập đến vùng hàng hải chung của Châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở vùng biển Nam Trung Hoa.

Sự quyết đoán một cách gây hấn của Trung Quốc đã bị phản tác dụng. Nó đã thúc đẩy các quốc gia khiếu kiện ASEAN gần nhau hơn và giúp Indonesia, nước chủ tịch ASEAN năm 2011, có cơ hội để khẳng định là tâm điểm của ASEAN về an ninh trong khu vực. Các nước Đông Nam Á muốn Hoa Kỳ tiếp tục cam kết và ủng hộ những nỗ lực đối phó với Trung Quốc của mình. Ngoài ra, các đồng minh như Philippines và Hoa Kỳ đang hợp tác chặt chẽ hơn về các vấn đề quốc phòng. Còn Việt Nam và Hoa Kỳ đang thúc đẩy các quan hệ quốc phòng non trẻ của mình.

Thật là quan trọng để ASEAN và những quyền lực ủng hộ mình thành công được trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ trong vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trên cơ sở của UNCLOS. Nếu không thì “kẻ mạnh mặc sức làm những gì mình muốn và kẻ yếu cứ phải chịu đựng”, như đề nghị của sử gia Hy Lạp Thucydides từ nhiều thế kỷ trước. Việc Trung Quốc đảo ngược vùng biển Nam Trung Hoa trở thành phiên bản hiện đại của loại “biển của chúng tôi” (mare nostrum) sẽ xói mòn chế độ pháp lý quốc tế vốn cần thiết cho nền trật tự toàn cầu.

Nguồn: Asia Sentinel

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: