CXN – Điều khiển và điều tiết trong kinh tế vĩ mô là gì ?



Châu Xuân Nguyễn
-
(Yêu cầu phổ biến rộng rãi)
Điều khiển là control và Điều tiết là Regulate. Tất cả các nền kinh tế thế giới đều chuyển từ Điều Khiển qua Điều tiết từ 220 năm nay rồi và trong vòng 30 năm trở lại đây, họ chuyển từ điều tiết còn “Không điều tiết”, chỉ thuần túy “chế tài” (heavy penalty).
1. Nền kinh tế điều khiển là một nền kinh tế mà CP điều khiển, chỉ đạo tất cả từ 19 tập đoàn, TCty phải sản xuất như thế nào, phải phục vụ khách hàng như thế nào, phải làm bao nhiêu thủy điện, bao nhiêu nhiệt điện, tài chánh lấy từ đâu, bán điện hay xăng giá bao nhiêu, lên hay xuống giá bao nhiêu, bao giờ hỗ trợ, vì là con cưng, sai khiến được nên tập đoàn là độc quyền, phục vụ mục đích nuôi sống nhà nước, Đảng và những doanh nghiệp yếu khác. Nhà nước cấm cạnh tranh lâu nhất có thể, và nếu có cạnh tranh chỉ là cạnh tranh hình thức, nhà nước sẽ thiên vị tập đoàn để làm suy yếu đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy, những nhà đầu tư khôn ngoan không bao giờ lập doanh nghiệp cạnh tranh với tập đoàn, chính vì vậy nên thị trường bị bóp méo, người tiêu dùng phải trả giá cao cho sản phẩm, dịch vụ như xăng, điện v.v…Tây âu thấy rõ điều này là Chánh phủ không thực sự phục vụ lợi ích cho người tiêu dùng tức là người dân mà thay vào đó, CP đang phục vụ cho lợi ích của nhà cầm quyền, của đãng và một số cánh hẩu của đảng. Điều này đem đến tham nhũng, rút ruột v.v…Thể chế kinh tế này chĩ hơn bao cấp, phong kiến một chút thôi và nó chỉ còn ở VN gọi là kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Nền kinh tế điều tiết bây giờ cũng còn ít như những nước Bắc Âu, Na uy, Đan mạch v.v..còn lại là nền kinh tế “không điều tiết” chỉ “chế tài mà thôi”.
Trong loại 2. này thì không có những cty quốc doanh nữa, tất cả doanh nghiệp đều là tư nhân cạnh tranh bình đẳng, mạnh và khôn thì sống, yếu thì phá sản, làm ngành nghề khác.
Trong nền kinh tế này, CP không trợ giá, đánh thuế đồng điều và CP có rất nhiều đạo luật điều tiết như điện phải cung cấp chỉ được tối đa 10 ngày cúp/năm, xe hỏa phải đúng giờ 99.5%, xăng phải cung ứng đầy đủ…Các doanh nghiệp dĩ nhiên sẽ tăng giá cao nhất có thể và người tiêu dùng chỉ muốn và chọn sản phẩm giá thấp nhất có thể với chất lượng cao nhất có thể và dịch vụ tốt nhất có thể, chính vì vậy giá như xăng dầu quy luật thị trường tự định giá như không như ngay bây giờ, giá dầu thô và dầu lọc giảm hơn 75% mà giá xăng vẫn không giảm vì CP đã điều khiển giá để tăng thêm loại nhuận nuôi đảng, nuôi cánh hẩu mà cố tình có lơ quyền lợi của người tiêu dùng hay 86 triệu người dân VN.
Với nền kinh tế này, nhà nước thu gọn lại rất nhỏ và họ không can thiệp hành chính như cấm nhập khẩu này nọ, hay quyết định giá xăng, điện , thịt heo v.v.. nhưng họ vẫn giữ quyền điều khiển lãi suất để diều tiết lạm phát, điều khiển tỷ giá, nguồn cung của lượng tiền M3 (thật ra số đo M3 lượng cung tiền của Úc, Mỹ đã hủy bỏ rồi vì thẻ tín dụng, bank bills, trái phiếu quá nhiều nên làm sai con số này, Vn thì vẫn còn dùng M2 (M2 rất giới hạn so với M3)).
Điện cũng vậy, khi họ than lỗ thì nhà nước đồng ý cho họ tăng nhưng khi giá thành giảm thì tiền này ai biết đi về đâu ?? Thụy sĩ ???
Khuynh hướng từ thời toàn cầu hóa (globolization of the economies) thì CP bỏ luôn điều tiết, nếu doanh nghiệp nào gian dối hay cãnh tranh bất bình đẵng sẽ bị rút giấy phép hay bị phạt hàng tỉ usd. Đây mới là thật sự kinh tế thị trường.
Với nền kinh tế VN, đây là giai đoạn tốt nhất để đổi từ kinh tế điều khiển thành kinh tế điều tiết bằng cách bãi bõ tất cả 19 tập đoàn và Tcty. Nếu DCS không làm, thì sau khi DCS sụp, tôi sẽ làm vì đảng của tôi không cần ngân sách nuôi hay công an bảo vệ, sự bảo vệ đến từ làm tốt kinh tế vĩ mô cho dân tộc thì sẽ tiếp nhiệm kỳ tới, vậy thôi và chúng tôi cũng không đàn áp những người bất đồng chính kiến mà chúng tôi sẽ tranh luận với 1 đảng đối lập (chứ không tranh luận với 96 bloggers như hiện nay).
Đọc bài này, so sánh VN bây giờ với Nhật những đầu năm 2000 tôi thấy rùng mình về sự tương đồng: Trích: “Japan Nhật Bản Từ lúc bong bóng tài sản của những năm 1990 sụp đổ vào đầu những năm 2000, chính phủ Nhật Bản đã nhìn thấy bãi bỏ điều tiết như là một cách hiệu quả để nâng nền kinh tế của nó, bởi vì nó có một mức thâm hụt ngân sách khổng lồ và không thể thực hiện cắt giảm thuế lớn.” hết trích.
Nếu chúng ta muốn hội nhập với kinh tế thế giới thì chúng ta phải thay đổi thích ứng chứ không giữ cứng nhắc 1 thể chế kinh tế từ 1986 mở cửa tới giờ. Cả thế giới không đứng chờ chúng ta mà chúng ta phải chạy theo họ, đó là xu hướng của thời đại như Tiến Sĩ Cù Huy hà Vũ nói về liên minh với Hoa Kỳ. Ông ấy phải đi tù 7 năm + 3 năm vì nói lên lời ấy, hôm nay tôi nói lên và 10 năm sau tôi vẫn là một người tự do, vậy anh CHHV và tôi khác nhau cái gì ??? Quốc tịch hay chế độ hay cả hai.
Bài sau đây là bài về “không điều tiết” tức là “deregulate of the economy”.
Melbourne
13.08.2011
Châu Xuân Nguyễn
Khó khăn sẽ giúp thị trường BĐS tự sàng lọc
Tổng Cty Hàng hải lỗ 660 tỷ đồng
Dự báo kinh tế vĩ mô còn bất cập
Tuần tới ban hành dự thảo nghị định cổ phần hóa DNNN

Phi điều tiết (dereulation) là việc loại bỏ hoặc đơn giản hóa các quy tắc của chính phủ và các quy định hạn chế hoạt động của thị trường tự do. Phi điều tiết không có nghĩa là loại bỏ các đạo luật chống gian lận hoặc quyền sở hữu trí tuệ hay sản phẩm nhưng loại bỏ hoặc giảm kiểm soát của chính phủ về kinh doanh thị trường, do đó di chuyển thị trường tới một bối cảnh công bình và tự do hơn. Nó khác với tự do hóa (liberalization), khi mà nhiều tay chơi được nhập cuộc, nhưng vẫn tiếp tục nhiều quy định ràng buộc và đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng và quy định giá tối đa và tối thiểu. Một ví dụ của Phi điều tiết là việc bãi bỏ điều tiết về lãnh vục tài chính.
Tổng Thể: Phi điều tiết có nghĩa là sự giảm thiểu hay đơn giản hóa những điều lệ hành chánh sẽ nâng lên năng lưc cạnh tranh, do đó năng suất cao hơn, hiệu quả hơn và giá thành sẽ thấp hơn.
Nhờ kết quả của việc Phi điều tiết, France Télécom có thể vận hành hộp điện thoại tại Wellington, New Zealand.

Deregulation Phi điều tiết khác với tự do hóa (liberalization) bởi vì một thị trường tự do hóa, trong khi thường có quy định ít hơn và đơn giản hơn, cũng có thể có quy định để tăng hiệu quả và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, một ví dụ là pháp luật chống độc quyền. Tuy nhiên, 2 từ ngữ thường được sử dụng thay thế cho nhau trong các ngành công nghiệp.

Song song với Phi điều tiết, phải có chương trình để xem xét đánh giá những các sáng kiến ​​quản lý với một cái nhìn để giảm thiểu, đơn giản hóa, và làm cho các quy định hiệu quả hơn. Những nỗ lực này, được thúc đẩy bởi Regualatory Flexibility Acts 1980, được thể hiện trong United States Office of Management and Budget’s Office of Information and Regulatory Affairs, và Quy chế của Vương quốc Anh là Better Regulation Commission. Cost – Benefit Analysis. Ngoài ra, thường có những sáng kiến về đổi mới bởi những kinh tế gia, ví dụ như kinh doanh khí thải. Học tập nghiên cứu về lý thuyết kinh tế phối hợp với hoạt động quản lý hành chánh vẫn tiếp tục.Chúng ta phải phân biệt rõ ràng về phi điều tiết và tư nhân hóa. Tư nhân hóa có thể được xem là những dịch vụ thuộc sở hữu nhà nước được cổ phần hóa hay tư nhân hóa. Điều này bắt buộc các doanh nghiệp tư nhân mới này hoạt động với nguyên tắc thị trường hơn là các thực thể nhà nước. Tuy nhiên, mức độ để có tự do để hoạt động trên thị trường và mức độ cạnh tranh trong thị trường của đơn vị tư nhân hoặc các chủ thể tư nhân mới này có thể phụ thuộc vào các biện pháp khác được thực hiện thêm ngoài vấn đề tư nhân hóa.Trong một số trường hợp, tư nhân hóa một phần có thể được lựa chọn, trong đó một phần của dịch vụ nhà nước được cung cấp bởi các nhà thầu tư nhân, nhưng chính phủ vẫn giữ được khả năng tự hoạt động ở một khoản thời gian nào đó của hợp đồng, nếu họ muốn . Một ví dụ về tư nhân hóa một phần là hợp đồng dịch vụ xe buýt trường học, chẳng hạn như xe buýt và các nguồn lực khác là vốn của chính phủ, được tạm sử dụng bởi nhà thầu cho một khoảng thời gian trong việc cung cấp dịch vụ, nhưng quyền sở hữu xa buýt là của chính phủ . Trong tình huống như vậy, coi như là chính phủ giao thầu dịch vụ xe buýt.

Một cẩm nang tốt về các điều tiết kinh doanh trên toàn thế giới dùng để nghiên cứu phi điều tiết hay tăng điều tiết là Ease of doing Business Index.

Argentina đã cải cách kinh tế sâu rộng bằng cách Phi điều tiết, tư nhân hóa, và áp dụng tỷ giá hối đoái cố định dưới thời chính quyền Menem (1989-1999).

Australia là một quốc gia tiên phong trong việc Phi điều tiết rộng rãi bắt đầu những năm đầu tiên của 1980. Sau khi công bố một loạt các chính sách phi điều tiết. Thủ tướng Bob Hawke (Lao động đã công bố các chính sách “Minimum Effective Regulation, Quy chế tối thiểu nhất có thể để có hiệu lực” vào năm 1986. Điều này được gọi là “báo cáo ảnh hưởng của điều tiết”, nhưng phải mất nhiều năm sau đó thì chính sách này mới phù hợp với các cơ quan chính phủ. Úc có kinh nghiệm phi điều tiết của thị trường lao động của họ trong thời gian cuối những năm 1980 dưới Thủ Tướng Hawke / Keating Lao động. Sau đó, Úc bãi bỏ điều tiết rất rộng rãi đầu năm 2005 bởi John Howard

thuộc Đảng Tự do của Australia thông qua chính sách WorkChoices của họ. Tuy nhiên nó đã bị đảo ngược khi Lao động nắm quyền của chính phủ Rudd. Trong năm 2007, Chính phủ Lao động Rudd hứa sẽ bãi bỏ điều tiết, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh, bổ nhiệm Lindsay Tanner Bộ trưởng Bộ Tài chính và Phi Điều Tiết.

Canada:

Khí đốt tự nhiên là phi điều tiết trong hầu hết cả nước, ngoại trừ một số tỉnh Đại Tây Dương và một vùng như Vancouver Island. Hầu hết các bãi bỏ điều tiết này đã xảy ra vào giữa những năm 1980.Các tỉnh Ontario đã bắt đầu bãi bỏ điều tiết cung cấp điện trong năm 2002, nhưng phải đảo ngược tạm thời do cử tri và phản ứng dữ dội của người tiêu vì biến động giá. Chính phủ vẫn đang tìm kiếm một khuôn khổ pháp lý ổn định cho thị trường.Tình trạng hiện tại là một cấu trúc một phần giá trần của nhà nước. Phần còn lại của giá cả là dựa trên giá thị trường và có rất nhiều nhà cung cấp năng lượng cạnh tranh hợp đồng. Từ đó có cạnh tranh về giá của những nhà cung cấp này.

Các tỉnh Alberta đã được cung cấp điện bởi tư nhân. Khách hàng được tự do để lựa chọn công ty mà họ đăng ký với, nhưng có rất ít để lựa chọn và giá điện đã tăng lên đáng kể cho người tiêu dùng vì thị trường quá nhỏ để hỗ trợ cạnh tranh.Cựu Premier Ralph Klein dựa trên các kế hoạch bãi bỏ điều tiết toàn bộ theo mô hình Enron, và tiếp tục với nó ngay cả sau khi sự sụp đổ của thảm họa Enron (vì kế toán bất hợp pháp).

Châu Âu
EU về bằng sáng chế phần mềm 2003
Bãi bỏ điều tiết về ngành hàng không ở châu Âu vào năm 1992 cho các nước EU quyền để vận hành các dịch vụ hàng không ​​giữa các quốc gia EU khác.

Cộng hòa Ireland. Ngành công nghiệp taxi Ireland dẫn đến một loạt xe taxi mới. Điều này là do giá của giấy phép sụt qua đêm. Số lượng taxi tăng đáng kể.Anh Quốc. Chính phủ bảo thủ của Margaret Thatcher bắt đầu một chương trình bãi bỏ điều tiết và tư nhân hóa sau khi cuộc tổng tuyển cử năm 1979. Trong đó có hệ thống xe buýt nhanh (Giao thông vận tải Đạo luật 1980), British Telecom (hoàn thành năm 1984), tư nhân hóa các dịch vụ xe buýt London (1984), dịch vụ xe buýt địa phương (Giao thông vận tải Đạo luật 1985) và đường sắt (1993).Từ năm 1997 chính phủ Lao động của Tony Blair và Gordon Brown đã phát triển một chương trình điều chỉnh những điều tiết. Điều này bao gồm một chương trình chung cho các cơ quan chính phủ để rà soát, đơn giản hóa hoặc bãi bỏ các quy định hiện có của họ, trong “phương pháp tiếp cận quy định mới”. Năm 2006, chính pháp luật mới (Đạo luật Cải cách lập pháp và quy định năm 2006) đã được giới thiệu để thiết lập các nguyên tắc theo luật định và một số quy tắc thực hành.

Các chính phủ Lao động đã không tư nhân hóa bất kỳ dịch vụ nào, mặc dù một số doanh nghiệp nhà nước sở hữu khác như QinetiQ đã được tư nhân hóa. Tuy nhiên, rất nhiều cơ sở hạ tầng và bảo trì công trình được ký hợp đồng với doanh nghiệp tư nhân theo quan hệ đối tác Công-Tư (PPP), với đấu thầu cạnh tranh đối với các hợp đồng trong khuôn khổ pháp lý. Điều này bao gồm các dự án lớn như xây dựng bệnh viện mới cho các dịch vụ y tế quốc gia, xây dựng trường học mới, và bảo trì tàu điện ngầm London.

Japan Nhật Bản Từ lúc bong bóng tài sản của những năm 1990 sụp đổ vào đầu những năm 2000, chính phủ Nhật Bản đã nhìn thấy bãi bỏ điều tiết như là một cách hiệu quả để nâng nền kinh tế của nó, bởi vì nó có một mức thâm hụt ngân sách khổng lồ và không thể thực hiện cắt giảm thuế lớn.

New Zealand
Kể từ khi bãi bỏ quy định của ngành bưu chính, các nhà khai thác bưu chính khác nhau có thể cài đặt hộp bộ sưu tập thư trong streets.See New Zealand: Kinh tế New Zealand
New Zealand đã bãi bỏ quy định rộng rãi từ năm 1984. Nguyên xúi giục của Đảng Lao động, sau đó được tiếp tục của Đảng Quốc gia đối lập xưa. Kết quả là, New Zealand, có một danh tiếng như là một đất nước gần như xã hội chủ nghĩa, được coi là một trong những nước kinh doanh thân thiện nhất của thế giới, bên cạnh Singapore. Tuy nhiên, các nhà phê bình phụ trách bãi bỏ quy định đã mang lại nhiều lợi ích cho một số phần của xã hội, và đã gây ra nhiều của nền kinh tế New Zealand (bao gồm gần như tất cả các ngân hàng) để trở thành vốn đầu tư nước ngoài.

[Sửa] RussiaRussia đã thông qua trên phạm vi rộng bãi bỏ quy định (và tư nhân đồng thời) những nỗ lực trong cuối những năm 1990 dưới thời Boris Yeltsin, một phần đảo ngược theo Vladimir Putin. Lực đẩy chính bãi bỏ quy định đã được ngành điện (xem RAO UES), với đường sắt và các tiện ích xã gắn ở vị trí thứ hai [cần dẫn nguồn] Phi điều tiết của ngành khí tự nhiên (Gazprom) là một trong những nhu cầu thường xuyên được đặt khi Nga Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu.

[Sửa] Hoa Kỳ [sửa] Lịch sử của regulationSee: Đại suy thoái và nguyên nhân của cuộc Đại khủng hoảng
Nhiều ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ đã trở thành quy định của chính phủ liên bang trong cuối thế kỷ 19 và đầu 20. Nhập cảnh vào một số thị trường đã được hạn chế để kích thích và bảo vệ đầu tư ban đầu của các công ty tư nhân vào cơ sở hạ tầng để cung cấp các dịch vụ công cộng, chẳng hạn như tiện ích của nước, điện và thông tin liên lạc. Với mục nhập của đối thủ cạnh tranh rất hạn chế, tình huống độc quyền được tạo ra, cần phải kiểm soát giá cả và kinh tế để bảo vệ công chúng. Các hình thức khác của quy định đã được thúc đẩy bởi những gì được coi là lạm dụng doanh nghiệp lợi ích công cộng của các doanh nghiệp đã còn tồn tại, chẳng hạn như xảy ra với các tuyến đường sắt sau thời đại của các ông trùm cướp cái gọi là. Trong trường hợp đầu tiên, như các thị trường trưởng thành nơi các nhà cung cấp một số có thể được tài chính có thể cung cấp các dịch vụ tương tự, giá được xác định bởi sự cạnh tranh đã được coi là nhiều hơn mong muốn hơn so với những người do quá trình quản lý.

Một vấn đề khuyến khích bãi bỏ quy định là cách mà trong đó các ngành công nghiệp quy định thường xuyên kiểm soát các cơ quan chính phủ quản lý, sử dụng chúng để phục vụ lợi ích của ngành công nghiệp. Ngay cả khi cơ quan quản lý bắt đầu hoạt động độc lập, một quá trình được gọi là chụp quy định thường thấy lợi ích của ngành công nghiệp đến để thống trị của người tiêu dùng. Một mô hình tương tự đã được quan sát với quá trình bãi bỏ quy định riêng của mình, thường có hiệu quả kiểm soát bởi các ngành công nghiệp quy định thông qua việc vận động hành lang quá trình lập pháp. Các lực lượng chính trị, tuy nhiên, tồn tại dưới nhiều hình thức khác cho các nhóm lợi ích đặc biệt khác.

Trong thời đại tiến bộ (năm 1890-năm 1920), Tổng thống Theodore Roosevelt, William Howard Taft và Woodrow Wilson lập quy định trên các bộ phận của nền kinh tế Mỹ, đáng chú ý nhất là trong việc điều hành kinh doanh lớn và ngành công nghiệp. Một số cải cách nổi bật nhất của họ là tin tưởng-busting (phá hủy và cấm độc quyền), việc tạo ra các luật bảo vệ người tiêu dùng Mỹ, việc tạo ra một thuế thu nhập liên bang (Tu chính án XVI, thuế thu nhập đã sử dụng một cấu trúc thuế lũy tiến với thuế đặc biệt cao trên những người giàu có), thành lập của Cục Dự trữ Liên bang, và tổ chức ngắn hơn giờ làm việc, tiền lương cao hơn, điều kiện sống tốt hơn, tốt hơn quyền và đặc quyền để tổ chức công đoàn, bảo vệ quyền lợi của tiền đạo, cấm thực hành lao động không công bằng, và việc cung cấp các dịch vụ xã hội hơn để các tầng lớp lao động và mạng lưới an sinh xã hội cho người lao động thất nghiệp, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra một nhà nước phúc lợi ở Hoa Kỳ và cuối cùng trong hầu hết các nước phát triển.

Trong nhiệm kỳ tổng thống của Warren Harding (1921-1923) và Calvin Coolidge (1923-1929), chính phủ liên bang nói chung theo đuổi giấy thông hành-faire chính sách kinh tế Sau khi sự khởi đầu của cuộc Đại khủng hoảng, Tổng thống Franklin D. Roosevelt thực hiện nhiều quy định về kinh tế, bao gồm cả công nghiệp phục hồi Đạo luật quốc gia (đã bị đánh đập bởi Tòa án tối cao), quy định của vận tải đường bộ, hàng không và ngành công nghiệp truyền thông, tổ chức của Sở Giao dịch Chứng khoán năm 1934, và Đạo luật Glass-Steagall, đã được thông qua vào năm 1933. Những năm 1930 quy định ở lại chủ yếu tại chỗ cho đến khi Cục Richard Nixon. [3] Trong hỗ trợ của mình cạnh tranh hạn chế sáng kiến ​​quy định của Tổng thống Roosevelt đã đổ lỗi cho việc bồi thường của doanh nghiệp lớn để gây ra một bong bóng kinh tế. Tuy nhiên, các nhà sử học thiếu sự đồng thuận trong việc mô tả mối quan hệ quan hệ nhân quả giữa các sự kiện khác nhau và vai trò của chính sách kinh tế của chính phủ trong việc gây ra hoặc giảm nhẹ cuộc Đại khủng hoảng.

[Sửa] Phi điều tiết 1970-2000Deregulation đã đạt được đà vào những năm 1970, chịu ảnh hưởng của nghiên cứu tại Đại học Chicago và các lý thuyết của Ludwig von Mises, Friedrich von Hayek, Milton Friedman, trong số những người khác. Hai hàng đầu nghĩ rằng xe tăng ‘ở Washington, Viện Brookings và Viện Doanh nghiệp Mỹ, đã hoạt động trong tổ chức các hội thảo và nghiên cứu xuất bản ủng hộ các sáng kiến ​​deregulatory trong suốt những năm 1970 và 1980. Alfred E. Kahn đã đóng một vai trò khác thường trong việc xuất bản cả hai học tập và tham gia vào các nỗ lực của chính quyền Carter để bãi bỏ kiểm soát giao thông vận tải.

[Sửa] TransportationThe toàn diện đầu tiên đề nghị bãi bỏ kiểm soát một ngành công nghiệp lớn ở Hoa Kỳ, giao thông vận tải, có nguồn gốc trong quản lý Richard Nixon và đã được chuyển tới Quốc hội vào cuối năm 1971 [4] Đề xuất này đã được khởi xướng và phát triển bởi một nhóm liên cơ quan đó bao gồm các Hội đồng cố vấn kinh tế (đại diện bởi Hendrik Houthakker và Thomas Gale Moore), Văn phòng Nhà Trắng của Consumer Affairs (đại diện bởi Jack Pearce), Sở Tư pháp, Sở Giao thông Vận tải, Sở Lao động và các cơ quan khác [5].

Đề nghị giải quyết cả đường sắt và xe tải vận chuyển, nhưng không vận chuyển hàng không. (92d Quốc hội, Thượng viện Bill 2842) Các nhà phát triển của pháp luật về Quản trị này đã tìm cách để nuôi dưỡng hỗ trợ từ những người mua thương mại của dịch vụ vận tải, tổ chức người tiêu dùng, các nhà kinh tế, và các nhà lãnh đạo tổ chức môi trường. [6] Điều này ‘liên minh xã hội dân sự đã trở thành một khuôn mẫu để liên minh có ảnh hưởng trong các nỗ lực để bãi bỏ kiểm soát vận tải đường bộ và vận chuyển hàng không sau này trong thập kỷ.

Sau khi Nixon rời nhiệm sở, tổng thống Gerald Ford, với lợi ích có liên quan, thông qua bảo đảm của sự thay đổi quan trọng đầu tiên trong chính sách điều tiết trong một hướng cạnh tranh, trong Đạo luật đường sắt Khôi phục và cải cách quy định năm 1976. Tổng thống Jimmy Carter dành nỗ lực đáng kể để bãi bỏ quy định giao thông vận tải, và làm việc với lãnh đạo xã hội của Quốc hội và dân sự thông qua Đạo luật bãi bỏ quy định hàng không (24 Tháng Mười 1978), Luật lảo đảo đường sắt (đã ký 14 Tháng 10 năm 1980), và Đạo Luật nhà cung cấp động cơ năm 1980 ( ký 01 tháng 7 1980).

Đây là những hành vi bãi bỏ quy định quan trọng trong giao thông vận tải, thiết lập các khuôn khổ khái niệm pháp và lập pháp nói chung, thay thế các hệ thống quản lý đưa ra giữa những năm 1880 và những năm 1930. Chi phối chủ đề của những hành vi phổ biến là để giảm bớt các rào cản để nhập cảnh tại các thị trường vận tải và thúc đẩy hơn độc lập, giá cả cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ vận tải, thay thế lực lượng thị trường cạnh tranh giải phóng để kiểm soát quy định chi tiết về nhập cảnh, xuất cảnh, và giá vận tải thị trường. Vì vậy, bãi bỏ quy định phát sinh, mặc dù các quy định để thúc đẩy cạnh tranh đã được đưa ra.

Một loạt các đạo luật quan trọng là cần thiết để quá trình khuyến khích cạnh tranh trong giao thông vận tải. Xe buýt giữa các tiểu bang đã được giải quyết trong năm 1982, trong Đạo luật Cải cách xe buýt năm 1982. Giao nhận vận tải hàng hóa (tập hợp vận chuyển hàng hóa) có quyền tự do hơn trong Đạo luật bãi bỏ quy định bề mặt Freight Forwarder của năm 1986. Như các tiểu bang tiếp tục điều chỉnh hoạt động của các tàu sân bay động cơ trong trạng thái riêng của họ, các khía cạnh intrastate của ngành công nghiệp vận tải đường bộ và xe buýt đã được đề cập trong Luật Hàng không Liên bang ủy quyền hành chính năm 1994, với điều kiện là “một nhà nước phân khu chính trị của Nhà nước, hoặc cơ quan chính trị của hai hoặc nhiều Quốc gia có thể không ban hành hoặc thực thi pháp luật, quy định hoặc quy định khác có hiệu lực và hiệu lực của pháp luật liên quan đến giá cả, tuyến đường, hoặc dịch vụ của bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ động cơ. “ 49 U.S.C. § 14501 (c) (1) (Supp. V 1999).

Dương giao thông vận tải là người cuối cùng được giải quyết. Điều này đã được thực hiện trong hai hành vi, Đạo luật vận tải biển năm 1984 và Vận chuyển Dương Đạo luật sửa đổi năm 1998. Những hành vi này đã tận tâm ít hơn so với pháp luật về kinh doanh vận tải nội địa của Mỹ, trong đó họ để lại tại chỗ hệ thống “hội nghị” trong vận chuyển quốc tế lót đại dương, mà lịch sử thể hiện cơ chế cartel. Tuy nhiên, những hành vi cho phép tỷ lệ độc lập của các thành viên tham gia hội nghị, và hành năm 1998 cho phép tỷ giá hợp đồng bí mật, mà có xu hướng cắt xén giá nhà cung cấp dịch vụ tập thể. Theo Ủy ban Liên bang Hoa Kỳ Hàng hải, đánh giá trong năm 2001, điều này dường như đã mở hoạt động cạnh tranh đáng kể trong vận tải biển, với kết quả mang lại lợi ích kinh tế.

Đạo luật bãi bỏ quy định hãng hàng không là một ví dụ của một hành động deregulatory có thành công đã được gọi vào câu hỏi. [7]

[Sửa] EnergyThe khẩn cấp khí tự nhiên Đạo luật (đã ký 02 Tháng 2 năm 1977) là một kết hợp của quy định trong phản ứng để tăng giá OPEC và bãi bỏ quy định và khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 ở Mỹ Như một kết quả của chương trình lựa chọn pháp luật về khí tự nhiên nổi lên trong một số bang. Khí đốt tự nhiên chương trình lựa chọn cho phép người sử dụng khối lượng khí đốt tự nhiên dân cư và nhỏ để chọn một nhà cung cấp khí đốt tự nhiên khác hơn so với các tiện ích truyền thống. Hiện có hàng trăm các nhà cung cấp khí tự nhiên không được kiểm soát hoạt động tại Hoa Kỳ.

[Sửa] CommunicationsSee: Đạo luật Viễn thông năm 1996 và tập trung quyền sở hữu các phương tiện truyền thông
Truyền thông tại Hoa Kỳ và quốc tế khu vực, trong đó cả hai công nghệ và chính sách quy định đã được thông lượng. Phát triển nhanh chóng của công nghệ máy tính và truyền thông – đặc biệt là Internet – đã làm tăng kích thước và sự đa dạng của các dịch vụ thông tin liên lạc. Các công ty điện thoại cố định điện thoại không dây, truyền thống, và cáp ngày càng xâm nhập thị trường truyền thống của mỗi người khác và cạnh tranh trên một dải rộng các hoạt động. Ủy ban Truyền thông Liên bang và Quốc hội cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiến hóa. Trong tư duy kinh tế chủ đạo, phát triển của cuộc thi này sẽ chứng minh chống lại kiểm soát quy định chi tiết về giá cả và cung cấp dịch vụ, và do đó ủng hộ bãi bỏ quy định giá cả và nhập vào các thị trường [8] Mặt khác, có tồn tại mối quan tâm đáng kể về tập trung quyền sở hữu các phương tiện truyền thông. từ nới lỏng các điều khiển lịch sử trên phương tiện truyền thông sở hữu thiết kế để bảo vệ sự đa dạng của quan điểm và thảo luận mở trong xã hội, và về những gì một số nhận thức được giá cao trong các dịch vụ công ty cáp vào thời điểm này.

[Sửa] FinanceThe lĩnh vực tài chính ở Mỹ đã phát triển rất nhiều trong những thập kỷ gần đây, trong đó đã có một số thay đổi quản lý và tạo ra các sản phẩm tài chính mới như chứng khoán hóa các nghĩa vụ cho vay của các loại khác nhau và các giao dịch hoán đổi mặc định tín dụng. Trong số những thay đổi pháp lý quan trọng nhất của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999, bãi bỏ các bộ phận của Đạo luật Glass-Steagall đã không được bãi bỏ. Đạo Luật này 1999 đã xuống rào cản đối với cạnh tranh giữa các ngân hàng truyền thống, các ngân hàng đầu tư, và các công ty bảo hiểm, và cho phép các công ty tham gia trong cả ba thị trường trong một số trường hợp.

Một số người tin rằng điều này bãi bỏ quy định đóng góp cho cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 [9] Tuy nhiên, những người khác tranh chấp này khẳng định, và một cuộc tranh luận sôi nổi về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn đang là. Tháng Tám, 2009 [10].

http://en.wikipedia.org/wiki/Deregulation

Deregulation is the removal or simplification of government rules and regulations that constrain the operation of market forces.[1] Deregulation does not mean elimination of laws against fraud or property rights but eliminating or reducing government control of how business is done, thereby moving toward a more laissez-faire, free market. It is different from liberalization, where more players enter in the market, but continues the regulation and guarantee of consumer rights and maximum and minimum prices. An example of Deregulation would be Financial Deregulation.

Overview

The stated rationale for deregulation is often that fewer and simpler regulations will lead to a raised level of competitiveness, therefore higher productivity, more efficiency and lower prices overall.

As a result of deregulation, France Télécom operates phone booths in Wellington, New Zealand.

Deregulation is different from liberalization because a liberalized market, while often having fewer and simpler regulations, can also have regulations to increase efficiency and protect consumers’ rights, one example being anti-monopoly legislation. However, the terms are often used interchangeably within deregulated/liberalized industries.

A parallel development with deregulation has been organized, ongoing programs to review regulatory initiatives with a view to minimizing, simplifying, and making more cost effective regulations. Such efforts, given impetus by the Regulatory Flexibility Act of 1980, are embodied in the United States Office of Management and Budget’s Office of Information and Regulatory Affairs, and the United Kingdom’s Better Regulation Commission. Cost-benefit analysis is frequently used in such reviews. In addition, there have been regulatory innovations, usually suggested by economists, such as emissions trading. Academic research on wedding economic theory with regulatory activity continues.

One can distinguish between deregulation and privatization. Privatization can be seen as taking state-owned service providers into the private sector. This can result in making the privatized enterprise more subject to market forces than was the state-owned entity. But the degree to which there is freedom to operate in the market and the extent of competitiveness in the market for the goods and services of the privatized entity or entities may depend on other measures taken in addition to privatization.

In some instances, partial privatisation may be selected, where provision of some portion(s) of the state-owned service are provided by private-sector contractors, but the government retains the capacity to self-operate at contract intervals, if it so chooses. An example of partial privatization would be some forms of school bus service contracting, such as arrangements where equipment and other resources purchased with government capital funds are used by the contractor for a period of time in providing services, but ownership is retained by the governmental unit. In such situations the arrangement can be seen as a sort of contracting out of functions for which the government takes responsibility.

One influential measure of worldwide business regulations that has inspired mostly deregulation but also in some instances increased regulations is the Ease of Doing Business Index.

[edit] By country

[edit] Argentina

Argentina underwent heavy economic deregulation, privatization, and had a fixed exchange rate during the Menem administration (1989–1999).

[edit] Australia

Australia was an early leader in deregulation with a broad program of deregulation beginning in the early 1980s. Having announced a wide range of deregulatory policies, Labor Prime Minister Bob Hawke announced the policy of ‘Minimum Effective Regulation’ in 1986. This introduced now familiar requirements for ‘regulatory impact statements’ but it took many years before the policy was complied with by government agencies. Australia experienced deregulation of their labor market during the late 1980s under Hawke/Keating Labor government’s. The country saw extensive deregulation of the labor market beginning in 2005 under John Howard‘s Liberal Party of Australia through their WorkChoices policy. However it was reversed under the following Rudd Labor government. In 2007, the Rudd Labor Government promised extensive deregulation, particularly in the business sector, appointing Lindsay Tanner Minister for Finance and Deregulation.

[edit] Canada

See also: Ontario electricity policy
Natural gas is deregulated in most of the country, with the exception of some Atlantic provinces and some pockets like Vancouver Island. Most of this deregulation happened in the mid 1980s.[2]

The province of Ontario began deregulation of electricity supply in 2002, but pulled back temporarily due to voter and consumer backlash at the resulting price volatility.[2] The government is still searching for a stable working regulatory framework.

The current status is a partially regulated structure in which consumers received a capped price for a portion of the publicly owned generation. The remainder of the price is market price based and there are numerous competitive energy contract providers. There is price comparison service operating in these jurisdictions.

The province of Alberta has deregulated their electricity provision. Customers are free to choose which company they sign up with, but there are few companies to choose from and the price of electricity has increased substantially for consumers because the market is too small to support competition.

Former Premier Ralph Klein based the entire deregulation scheme on the Enron model, and continued with it even after the highly publicized and disastrous collapse of Enron because of illegal accounting practices.

[edit] European Union

  • 2003 Corrections to EU directive about software patents
  • Deregulation of the air industry in Europe in 1992 gave carriers from one EU country the right to operate scheduled services between other EU states.

[edit] Republic of Ireland

The taxi industry was deregulated in Ireland leading to an influx of new taxis. This was due to the price of a licence dropping overnight. The number of taxis increased dramatically.

[edit] United Kingdom

The Conservative government of Margaret Thatcher started a program of deregulation and privatization after the general election of 1979. These included express coach (Transport Act 1980), British Telecom (completed in 1984), privatisation of London bus services (1984), local bus services (Transport Act 1985) and the railways (1993).

Since 1997 the Labour governments of Tony Blair and Gordon Brown developed a programme of better regulation. This included a general programme for government departments to review, simplify or abolish their existing regulations, and a “one in, one out” approach to new regulations. In 2006, new primary legislation (the Legislative and Regulatory Reform Act 2006) was introduced to establish statutory principles and a code of practice.

The Labour governments did not privatise any public services, although some other government-owned businesses such as QinetiQ were privatised. But a great deal of infrastructure and maintenance work was contracted to private enterprise under the Public-Private Partnership, with competitive bidding for contracts within regulatory framework. This included large projects such as building new hospitals for the National Health Service, building new state schools, and maintaining the London Underground.

[edit] Japan

Since the Japanese asset price bubble of the 1990s collapsed in the early 2000s, the Japanese government has seen deregulation as an effective way to lift its economy, because it has a huge budget deficit and cannot make a large tax cut.

[edit] New Zealand

Since the deregulation of the postal sector, different postal operators can install mail collection boxes in New Zealand’s streets.

See also: Economy of New Zealand
New Zealand has had extensive deregulation since 1984. Originally instigated by the Labour Party, it was later continued by the erstwhile opposition National Party. As a result, New Zealand, from having a reputation as an almost socialist country, is considered one of the most business-friendly countries of the world, next to Singapore. However, critics charge that the deregulation has brought little benefit to some sections of society, and has caused much of New Zealand’s economy (including almost all of the banks) to become foreign-owned.

[edit] Russia

Russia went through wide-ranging deregulation (and concomitant privatization) efforts in the late 1990s under Boris Yeltsin, now partially reversed under Vladimir Putin. The main thrust of deregulation has been the electricity sector (see RAO UES), with railroads and communal utilities tied in second place.[citation needed] Deregulation of the natural gas sector (Gazprom) is one of the more frequent demands placed upon Russia by the United States and European Union.

[edit] United States

[edit] History of regulation

See also: Great Depression and Causes of the Great Depression

Many industries in the United States became regulated by the federal government in the late 19th and early 20th century. Entry to some markets was restricted to stimulate and protect the initial investment of private companies into infrastructure to provide public services, such as water, electric and communications utilities. With entry of competitors highly restricted, monopoly situations were created, necessitating price and economic controls to protect the public. Other forms of regulation were motivated by what was seen as corporate abuse of the public interest by businesses already extant, such as occurred with the railroads following the era of the so-called robber barons. In the first instance, as markets matured to where several providers could be financially viable offering similar services, prices determined by competition were seen as more desirable than those set by regulatory process.

One problem that encouraged deregulation was the way in which the regulated industries often controlled the government regulatory agencies, using them to serve the industries’ interests. Even where regulatory bodies started out functioning independently, a process known as regulatory capture often saw industry interests come to dominate those of the consumer. A similar pattern has been observed with the deregulation process itself, often effectively controlled by the regulated industries through lobbying the legislative process. Such political forces, however, exist in many other forms for other special interest groups.

During the Progressive Era (1890s–1920s), Presidents Theodore Roosevelt, William Howard Taft, and Woodrow Wilson instituted regulation on parts of the American economy, most notably in regulating big business and industry. Some of their most prominent reforms are trust-busting (the destruction and banning of monopolies), the creation of laws protecting the American consumer, the creation of a federal income tax (by the Sixteenth Amendment; the income tax used a progressive tax structure with especially high taxes on the wealthy), the establishment of the Federal Reserve, and the institution of shorter working hours, higher wages, better living conditions, better rights and privileges to trade unions, protection of rights of strikers, banning of unfair labor practices, and the delivery of more social services to the working classes and social safety nets to many unemployed workers, thus helping to facilitate the creation of a welfare state in the United States and eventually in most developed countries.

During the Presidencies of Warren Harding (1921–23) and Calvin Coolidge (1923–29), the federal government generally pursued laissez-faire economic policies After the onset of the Great Depression, President Franklin D. Roosevelt implemented many economic regulations, including the National Industrial Recovery Act (which was struck down by the Supreme Court), regulation of trucking, airlines and the communications industry, the institution of the Securities Exchange Act of 1934, and the Glass–Steagall Act, which was passed in 1933. These 1930s regulations stayed largely in place until Richard Nixon‘s Administration.[3] In supporting his competition-limiting regulatory initiatives President Roosevelt blamed the excesses of big business for causing an economic bubble. However, historians lack consensus in describing the causal relationship between various events and the role of government economic policy in causing or ameliorating the Depression.

[edit] Deregulation 1970-2000

Deregulation gained momentum in the 1970s, influenced by research at the University of Chicago and the theories of Ludwig von Mises, Friedrich von Hayek, and Milton Friedman, among others. Two leading ‘think tanks’ in Washington, the Brookings Institution and the American Enterprise Institute, were active in holding seminars and publishing studies advocating deregulatory initiatives throughout the 1970s and 1980s. Alfred E. Kahn played an unusual role in both publishing as an academic and participating in the Carter Administration‘s efforts to deregulate transportation.

[edit] Transportation

The first comprehensive proposal to deregulate a major industry in the United States, transportation, originated in the Richard Nixon Administration and was forwarded to Congress in late 1971.[4] This proposal was initiated and developed by an interagency group that included the Council of Economic Advisors (represented by Hendrik Houthakker and Thomas Gale Moore), White House Office of Consumer Affairs (represented by Jack Pearce), Department of Justice, Department of Transportation, Department of Labor, and other agencies.[5]

The proposal addressed both rail and truck transportation, but not air carriage. (92d Congress, Senate Bill 2842) The developers of this legislation in this Administration sought to cultivate support from commercial buyers of transportation services, consumer organizations, economists, and environmental organization leaders.[6] This ‘civil society’ coalition became a template for coalitions influential in efforts to deregulate trucking and air transport later in the decade.

After Nixon left office, the Gerald Ford presidency, with the allied interests, secured passage of the first significant change in regulatory policy in a pro-competitive direction, in the Railroad Revitalization and Regulatory Reform Act of 1976. President Jimmy Carter devoted substantial effort to transportation deregulation, and worked with Congressional and civil society leaders to pass the Airline Deregulation Act (October 24, 1978), Staggers Rail Act (signed October 14, 1980), and the Motor Carrier Act of 1980 (signed July 1, 1980).

These were the major deregulation acts in transportation that set the general conceptual and legislative framework, which replaced the regulatory systems put in place between the 1880s and the 1930s. The dominant common theme of these Acts was to lessen barriers to entry in transport markets and promote more independent, competitive pricing among transport service providers, substituting the freed-up competitive market forces for detailed regulatory control of entry, exit, and price making in transport markets. Thus deregulation arose, though regulations to promote competition were put in place.

A series of substantial enactments were needed to work out the process of encouraging competition in transportation. Interstate buses were addressed in 1982, in the Bus Regulatory Reform Act of 1982. Freight forwarders (freight aggregators) got more freedoms in the Surface Freight Forwarder Deregulation Act of 1986. As many states continued to regulate the operations of motor carriers within their own state, the intrastate aspect of the trucking and bus industries was addressed in the Federal Aviation Administration Authorization Act of 1994, which provided that “a State, political subdivision of a State, or political authority of two or more States may not enact or enforce a law, regulation, or other provision having the force and effect of law related to a price, route, or service of any motor carrier.” 49 U.S.C. § 14501(c)(1) (Supp. V 1999).

Ocean transportation was the last to be addressed. This was done in two acts, the Ocean Shipping Act of 1984 and the Ocean Shipping Reform Act of 1998. These acts were less thoroughgoing than the legislation dealing with U.S. domestic transportation, in that they left in place the “conference” system in international ocean liner shipping, which historically embodied cartel mechanisms. However, these acts permitted independent rate making by conference participants, and the 1998 Act permitted secret contract rates, which tend to undercut collective carrier pricing. According to the United States Federal Maritime Commission, in an assessment in 2001, this appears to have opened up substantial competitive activity in ocean shipping, with beneficial economic results.

The Airline Deregulation Act is an example of a deregulatory act whose success has been called into question.[7]

[edit] Energy

The Emergency Natural Gas Act (signed February 2, 1977) was a mix of regulation in response to OPEC price hikes and deregulation and the 1973 oil crisis in the U.S. As a result of this legislation Natural Gas Choice programs have sprung up in several states. Natural Gas Choice programs allow residential and small volume natural gas users to select a natural gas supplier other than the traditional utility. There are hundreds of unregulated natural gas suppliers operating in the United States.

[edit] Communications

See also: Telecommunications Act of 1996 and Concentration of media ownership
Communications in the United States (and internationally) are areas in which both technology and regulatory policy have been in flux. Rapid development of computer and communications technology – particularly the Internet – have increased the size and variety of communications offerings. Wireless, traditional landline telephone, and cable companies increasingly invade each others’ traditional markets and compete across a broad spectrum of activities. The Federal Communications Commission and Congress appear to be attempting to facilitate this evolution. In mainstream economic thinking, development of this competition would militate against detailed regulatory control of prices and service offerings, and hence favor deregulation of prices and entry into markets.[8] On the other hand, there exists substantial concern about concentration of media ownership resulting from relaxation of historic controls on media ownership designed to safeguard diversity of viewpoint and open discussion in the society, and about what some perceive as high prices in cable company offerings at this point.

[edit] Finance

The financial sector in the U.S. has evolved a great deal in recent decades, during which there have been some regulatory changes and the creation of new financial products such as the securitization of loan obligations of various sorts and credit default swaps. Among the most important of the regulatory changes was the Gramm-Leach-Bliley Act in 1999, which repealed the parts of the Glass–Steagall Act which had not already been repealed. This 1999 Act took down barriers to competition between traditional banks, investment banks, and insurance companies, and allowed firms to participate in all three markets in some circumstances.

Some believe that this deregulation contributed to the U.S. financial crisis of 2007-2009 and the Global financial crisis of 2008-2009.[9] However, others dispute this assertion, and a lively debate on the causes of financial crisis is still under way as of August, 2009.[10]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: