Tên đề tài và tình hình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam


Có thể bạn không tin, nhưng tên một đề tài có thể chỉ ra nhiều vấn đề trong nghiên cứu kinh tế học ở Việt Nam hiện nay. Tôi sẽ phân tích tên đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) sẽ được báo cáo tại ĐH Kinh tế TP. HCM vào ngày 05/05/2010. Đây là đề tài cấp trường, có tên là: “Ứng dụng mô hình kinh tế lượng dự báo lượng khách du lịch quốc tế đến một số tỉnh ở Việt Nam bằng phần mềm EVIEWS 6.0. Trường hợp tỉnh Lâm Đồng và Tiền Giang”.

Việt Nam mình có đề tài NCKH cấp trường, cấp bộ, cấp bộ trọng điểm, và cấp nhà nước. Có vẻ như các cấp độ đề tài này phân biệt với nhau bởi: kinh phí nghiên cứu, người làm nghiên cứu, và chủ đề nghiên cứu. NCKH cấp trường thì kinh phí thấp (khoảng 400 tô phở 24, nếu nghiên cứu cần thu thập 400 mẫu số liệu, coi như mỗi mẫu phỏng vấn giá bằng 1 tô phở). NCKH cấp trường thì giáo viên nào làm cũng được, không nhất thiết phải là giáo sư hay phó giáo sư hay lãnh đạo trường đại học. NCKH cấp trường thì nghiên cứu những đề tài nhỏ, cụ thể, chuyên sâu, chẳng hạn hẹp hẹp như đề tài này ”Sự ưa thích thời gian và rủi ro: nối kết dữ liệu thực nghiệm và điều tra hộ gia đình ở Việt Nàm” (Risk and Time Preferences: Linking Experimental and Household Survey Data from Vietnam). NCKH cấp bộ hoặc cấp nhà nước thì chủ đề phải nên như thế này “Điều chỉnh không gian tài khóa để phát triển bền vững ở Việt Nam”.

Các cấp độ đề tài này lại không khác nhau về chất lượng nghiên cứu, tại vì hội đồng nghiệm thu dù cấp độ nào cũng kết luận “hoàn thành xuất sắc”, và báo cáo đề tài dù cấp độ nào cũng có thể xuất hiện trên tạp chí Phát triển Kinh tế. Trên thế giới thì cấp độ đề tài được phân biệt bởi tên tạp chí chuyên ngành mà nó xuất hiện. Cứ nhìn tên tạp chí thì có thể đoán chất lượng (tương đối) của đề tài. Ví dụ cái đề tài hẹp hẹp đo lường sự ưa thích rủi ro và ưa thích thời gian ở Việt Nam kể trên xuất hiện trên American Economic Review, là một trong những tạp chí kinh tế học hàng đầu thế giới, bên cạnh Quarterly Journal of Economics, Econometrica hay Journal of Political Economy. Chỉ có những nghiên cứu thực sự đột phá, chất lượng cao nhất mới xuất hiện được trên các tạp chí này.

Trở lại đề tài trên, tên đề tài cho thấy chủ đề nghiên cứu phải tập trung vào mô hình kinh tế lượng. Tác giả có lẽ đã phát triển được mô hình kinh tế lượng nào thật mới, thật hay, và nay kiểm định xem mô hình này chạy tốt hay không bằng cách chạy với bộ số liệu về lượng khách du lịch. Tuy nhiên đọc kỹ hơn thì có lẽ không phải vậy, vì tác giả lại thông tin thêm về ”phần mềm EVIEWS 6.0” và ”trường hợp tỉnh Lâm Đồng và Tiền Giang”. Việc để nơi chốn nghiên cứu lên đây chứng tỏ tác giả thực sự muốn phân tích về lượng khách du lịch đến các nơi này, chứ không phải tập trung vào mô hình kinh tế lượng. Thêm vào đó các nhà kinh tế lượng chuyên nghiệp và giới nghiên cứu kinh tế chuyên nghiệp thường không sử dụng phần mềm EVIEWS để phân tích dữ liệu. EVIEWS thích hợp với việc dạy học ở bậc thấp hơn. Các phần mềm kinh tế lượng chuyên nghiệp hơn thường là STATA, SAS, GAUSS hay LIMDEP.

Nếu thực sự chủ đề nghiên cứu là ”dự báo lượng khách du lịch” thì tên đề tài còn hé lộ một thông tin nữa. Đó là dường như tác giả không phân biệt được mô hình kinh tế (economic model) là gì, mô hình kinh tế lượng (econometric model) là gì. ”Dư báo lượng khách du lịch” sẽ cần mô hình kinh tế để phản ánh cơ chế tương tác giữa các biến số, cần mô hình kinh tế lượng để phân tích dữ liệu có từ mô hình kinh tế. Như vậy mô hình kinh tế mới chính là xương sống của nghiên cứu, nó cung cấp cái khung các mối quan hệ kinh tế mà nhà nghiên cứu muốn kiểm định. Mô hình kinh tế lượng chỉ là công cụ để phân tích dữ liệu, là công cụ để gắn dữ liệu vào mô hình kinh tế.

Nghiên cứu về mô hình kinh tế lượng là một lĩnh vực riêng, và không đơn giản chút nào (Daniel McFadden và James Hecman được giải Nobel kinh tế năm 2000 cho những nghiên cứu về mô hình dữ liệu rời rạc, phần rất khó nhằn trong kinh tế lượng). Cho nên nếu mục tiêu đề tài NCKH không phải là nghiên cứu sâu về mô hình kinh tế lượng, thì không nên đưa bất cứ yếu tố gì của kinh tế lượng lên tên đề tài. Rất tiếc là không ít NCKH hiện nay ở Việt Nam phạm phải sai lầm này. Lý do có thể là sau một thời gian dài nghiên cứu định tính suông, nay một số nhà nghiên cứu được biết đến công cụ kinh tế lượng có thể làm giàu chất lượng nghiên cứu (và cũng có thể cho thấy bản thân mình có cập nhật xu hướng mới) nên đề cao nó quá mức.

Tôi đề nghị tác giả sửa tên đề tài NCKH của mình thành ”Dự báo lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam: trường hợp tỉnh Lâm Đồng và Tiền Giang”. Và tất nhiên điều chỉnh nội dung nghiên cứu theo hướng tập trung vào mô hình kinh tế, chứ không phải mô hình kinh tế lượng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: